Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 166/2024/HS-ST

Ngày: 22/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Phước

2. Ông Cao Quốc Hưng

- Thư ký phiên tòa: Bà Bà Ngô Thị Hằng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh L - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 141/2024/TLST/HSST ngày 25 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Trần Khánh H (tên gọi khác: không), sinh năm 1982, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: Số F đường H, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Số F Đường E, khu phố E, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Trần Thanh T (đã chết); Mẹ: Lâm Thị C; Có vợ và 01 người con sinh năm 2020; Tiền án: Không; Tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 26/2022/QĐ-TA ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đưa Trần Khánh H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng. Chấp hành xong ngày 25/01/2023;

Nhân thân:

Ngày 24/6/2003, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 1111/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2004, đóng án phí ngày 09/01/2004.

Ngày 06/3/2008, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 57/2008/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/02/2010, đóng án phí ngày 03/10/2008.

Ngày 01/3/2011, bị Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định về việc đưa người vào cơ sở chữa bệnh số 2579/QĐ-UBND, thời hạn 24 tháng.

Bị bắt, tạm giam ngày 01/10/2023

Bị cáo Trần Khánh H có mặt tại phiên tòa.

2. Đỗ Lệ Thanh M (tên gọi khác: Không), sinh năm 1990, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: Số G Đường D, khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Đỗ Chí H1; Mẹ: Huỳnh Thị L1;Chồng: không rõ, con: có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không có;

Bị bắt, tạm giam ngày 01/10/2023

Bị cáo Đỗ Lệ Thanh M có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 01/10/2023, Công an phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra hành chính phòng trọ không số, Nhà số F Đường số E, Khu phố E, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh do Trần Khánh HĐỗ Lệ Thanh M đang ở thì phát hiện trên nền nhà trong phòng trọ có: 01 hộp giấy có chữ Galasy A52J5G Samsung (bên trong có 01 cân tiểu ly, 01 gói nylon chứa tinh thể không màu; 01 gói nylon chứa chất màu trắng, 01 hộp nhựa màu xanh bên ngoài in chữ Brillante torcia LED bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu); 01 hộp nhựa màu đen (bên ngoài có hình con rồng màu vàng, bên trong có 02 ống hút bằng nhựa màu trắng, 02 phễu (nỏ) bằng thuỷ tinh) và 01 bình thuỷ tinh tự chế gắn ống hút nhựa trắng, một đầu màu đỏ. Nghi vấn các gói nylon là ma túy nên Công an phường H tiến hành đưa HM cùng vật chứng về trụ sở Công an phường H để xử lý.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Trần Khánh HĐỗ Lệ Thanh M khai nhận:

Trần Khánh H có quen biết với M được khoảng 03 tháng trước khi bị bắt và có tình cảm yêu đương với M, H biết M có sử dụng ma túy. Sau đó, H thuê phòng trọ không số, nhà số F Đường số E, Khu phố E, phường H, Thành phố T sống chung như vợ chồng với M. Trong quá trình sống chung, HM thoả thuận tiền mà HM làm ra sẽ đưa cho H giữ, H chuyển vào tài khoản ngân hàng V số 0461000645066 của H, cả hai tiêu xài phục vụ sinh hoạt chung, trong đó có việc mua ma tuý về sử dụng. HM đã 03 lần đi mua ma tuý của một người đàn ông (không rõ lai lịch) bằng tiền chung của HM, ở khu vực chân cầu C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng. Do thời gian đi làm, sinh hoạt cá nhân khác nhau nên sau khi mua ma túy về cất giữ, HM ai có nhu cầu sử dụng ma túy lúc nào thì tự lấy ma túy ra sử dụng.

Lần gần nhất, vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 30/9/2023, H chở M đi đến cây ATM V1 nằm trên đường N, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, H rút 1.000.000 đồng trong tài khoản, sau đó chở M đi mua ma tuý của người đàn ông ở chân cầu C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến nơi, H dừng xe lại, người đàn ông từ phía chân cầu đi ra, H nói bán cho H 1.000.000 đồng ma tuý thì người đàn ông lấy trong túi quần bên phải ra 01 gói ma tuý đá đưa cho H, H cầm gói ma tuý cho vào túi quần trước bên phải và lấy tiền trong bóp để ở túi quần sau bên phải trả cho người đàn ông. Sau đó, H điều khiển xe chở M về nhà. H đưa gói ma tuý cho M, M mở gói ma tuý, đổ một ít ma tuý sang một gói nylon khác và để trong hộp nhựa màu xanh, gói ma tuý còn lại thì để trong vỏ hộp điện thoại hiệu S. M có lấy một ít ma tuý cho vào dụng cụ sử dụng ma tuý để sử dụng. H thấy vậy nên cũng đến tự lấy ma túy để sử dụng. Đến khoảng 14 giờ 00 phút ngày 01/10/2023, Công an phường H, thành phố T kiểm tra phòng trọ của HM phát hiện trên nền nhà trong phòng trọ có ma túy và dụng cụ sử dùng để sử dụng ma túy nên tiến hành đưa HM cùng vật chứng về trụ sở Công an phường H lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Đối với gói ma túy loại heroine có khối lượng 0,1371gam, Trần Khánh H khai nhận là của H mua của người đàn ông tại chân cầu C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh vào khoảng tháng 08/2023 với giá 100.000 đồng bằng tiền riêng của H, mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện thu giữ. M không biết việc H mua gói ma túy trên ở đâu, lúc nào, của ai. Bản thân M không sử dụng ma túy loại Heroine.

Kết luận giám định số 11046/KL-KTHS ngày 10/10/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận:

  • - Gói 01:
    • + Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m₁ là ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine, có khối lượng 3,3264g (ba phẩy ba hai sáu bốn gam).
    • + Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m₂ là ma túy ở thể rắn loại heroin, có khối lượng 0,1371g (không phẩy một ba bảy một gam).
  • - Gói 02: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m₃ là ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine, có khối lượng 0,6120g (không phẩy sáu một hai không gam).

Tại bản Cáo trạng số 159/CT-VKS-TPTĐ ngày 22/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Trần Khánh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Đỗ Lệ Thanh M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Trần Khánh H, Đỗ Lệ Thanh M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố. Các bị cáo thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Khánh H, Đỗ Lệ Thanh M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Khánh H; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Đỗ Lệ Thanh M, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt:

  • Bị cáo Trần Khánh H từ 04 năm 06 tháng tù đến 05 năm tù.
  • Bị cáo Đỗ Lệ Thanh M từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.

Vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo H, M không tranh luận, bào chữa.

Bị cáo H, M nói lời sau cùng: xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được và kết quả tranh luận tại phiên tòa có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo như sau:

Vào khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 01/10/2023 Công an phường H kiểm tra hành chính tại Nhà trọ số F Đường số E, Khu phố E, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, thì phát hiện bắt quả tang Trần Khánh H đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ở thể rắn có khối lượng 3,9384gam ma túy loại Methamphetamine và 0,1371gam ma túy loại Heroine và Đỗ Lệ Thanh M tàng trữ trái phép 3,9384 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân. Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Trần Khánh H, đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo Đỗ Lệ Thanh M đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Khánh H, Đỗ Lệ Thanh M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo H, M thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đối với phần ma túy là 3,9384gam ma túy loại Methamphetamine, hai bị cáo H, M là đồng phạm giản đơn với vai trò ngang nhau. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo H, M được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự, giảm cho các bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.

Đối với người đàn ông (không rõ lai lịch) bán ma túy cho HM, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố T tiếp tục điều tra có căn cứ sẽ xử lý sau.

[4] Về xử lý vật chứng:

  • - 02 gói niêm phong ghi vụ số 11046 (2140)/23 có chữ ký của GĐV Phan Tấn QNguyễn Thị Phương M1 bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định (Gói 01: tinh thể không màu có khối lượng 3,1774g; Bột màu trắng có khối lượng 0,0804g. Gói 02: tinh thể không màu có khối lượng 0,5214g): bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy
  • - 01 hộp giấy có chữ Galasy A52J5G Samsung bên trong có 01 cân tiểu ly; 01 hộp nhựa màu xanh bên ngoài in chữ Brillante torcia LED; 01 hộp nhựa màu đen bên ngoài có hình con rồng màu vàng bên trong có 02 ống hút bằng nhựa màu trắng; 02 phễu (nỏ) bằng thuỷ tinh; 01 bình thuỷ tinh tự chế gắn ống hút nhựa trắng, một đầu màu đỏ: là phương tiện cất giữ, sử dụng ma túy, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy

[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Tuyên bố bị cáo Trần Khánh H, Đỗ Lệ Thanh M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
  • Xử phạt bị cáo Trần Khánh H: 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/10/2023.
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
  • Xử phạt bị cáo Đỗ Lệ Thanh M: 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/10/2023.
  • - Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình năm 2015,
  • + Tịch thu tiêu hủy: 02 gói niêm phong ghi vụ số 11046 (2140)/23 có chữ ký của GĐV Phan Tấn QNguyễn Thị Phương M1 bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định (Gói 01: tinh thể không màu có khối lượng 3,1774g; Bột màu trắng có khối lượng 0,0804g. Gói 02: tinh thể không màu có khối lượng 0,5214g). 01 hộp giấy có chữ Galasy A52J5G Samsung bên trong có 01 cân tiểu ly; 01 hộp nhựa màu xanh bên ngoài in chữ Brillante torcia LED; 01 hộp nhựa màu đen bên ngoài có hình con rồng màu vàng bên trong có 02 ống hút bằng nhựa màu trắng; 02 phễu (nỏ) bằng thuỷ tinh; 01 bình thuỷ tinh tự chế gắn ống hút nhựa trắng, một đầu màu đỏ.
  • (Theo Phiếu nhập kho số NK24/179C ngày ngày 25/3/2024, của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
  • Bị cáo Trần Khánh H, Đỗ Lệ Thanh M mỗi bị cáo chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND, CA, Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • - Cơ quan THA hình sự;
  • - VKSND Tp.HCM;
  • - Sở Tư pháp Tp.HCM;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Dung

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 166/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 166/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger