TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 166/2024/HS-ST Ngày 21-08-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương.
Thư ký phiên toà: Ông Phùng Hoàng Phú- Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Bùi Tuấn Ngọc- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số 166/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 08 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 707/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 08 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thái C, sinh ngày 22 tháng 11 năm 1976 tại Hải Dương. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn M, xã B, huyện K, Hải Dương; tạm trú: Tổ dân phố P, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Đ; có vợ là Nguyễn Thị Kiều C1 và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/04/2024; có mặt.
Bị hại: Công ty TNHH A; địa chỉ: Số C, đường T, phường S, quận T, thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Bảo L, sinh năm 1988; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B H, quận L, thành phố Hải Phòng; tạm trú: Số A B, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng (theo văn bản ủy quyền số: AL/2021/087 ngày 30/08/2021 của Ông Furusawa Y - Tổng giám đốc Công ty TNHH A); vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 28/01/2024, Nguyễn Thái C cùng vợ là Nguyễn Thị Kiều C1, sinh năm 1981; chỗ ở Tổ dân phố P, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng và các con là Nguyễn Phú T1, Nguyễn Thanh M, Nguyễn Thanh N đến Trung tâm thương mại A1, Hải Phòng để thăm quan mua sắm. Tại đây, C lấy xe đẩy hàng của siêu thị rồi cho cháu M và cháu N ngồi vào trong xe để đi cùng vợ và cháu T1 đến khi vực tầng 1 Trung tâm bách hóa tổng hợp và siêu thị A2 thuộc Trung tâm thương mại A1, Hải Phòng. Cơ và C1 lựa chọn một số sản phẩm gồm: 02 hộp phomai con bò cười, 01 khay giò bò, 01 khay thịt bò xay rồi C bảo C1 ra thanh toán tiền các sản phẩm này để lấy phomai và giò bò cho các con ăn trước. Tiếp đó, C và C1 cùng các con đi đến gian hàng đông lạnh và hải sản để lựa chọn các sản phẩm gồm: 03 vỉ trứng cá hồi Nhật, 01 thịt thăn bò ngoại, 04 vỉ thịt cua sinh thái, 03 vỉ cá hồi hữu cơ, 02 vỉ cá hồi Na Uy, 02 vỉ cá ngừ đại dương, 01 thăn lõi vai bò Úc, 01 túi tôm sú thịt còn đuôi, 02 túi tôm thẻ đông lạnh, 01 vỉ đùi sau bò. Sau khi chọn xong, C1 đưa cháu M và cháu T1 ra khu vực quầy bánh mì, còn C đi cùng cháu N. Thấy người mua hàng đông đúc, không ai để ý và vợ cũng không đi cùng nên C đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Cơ lấy các sản phẩm vừa chọn trong xe đẩy rồi cho vào trong túi nilon hàng đã thanh toán lúc trước, còn một số mặt hàng thì C cho vào túi vải màu xanh có in chữ B mà vợ chồng C đã mang theo để đựng đồ cho con. Sau đó, C không thanh toán mà đẩy xe hàng qua cửa số 9 rồi gọi cho C1 ra chỗ gửi xe máy để lấy xe đi về. Khi C chuẩn bị cho hàng hóa vừa trộm cắp lên xe máy thì bị lực lượng an ninh kiểm tra và đưa về phòng an ninh làm việc và trình báo Công an quận L.
Tại Kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐGTS ngày 29/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận: Tổng giá trị tài sản Nguyễn Thái C trộm cắp là 6.126.100đồng.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thái C khai nhận: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 28/01/2024, C đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tài sản tại Trung tâm thương mại A1, Hải Phòng, khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì C không nói cho C1 biết và cũng không bàn bạc gì với C1. Tại chỗ gửi xe máy, C nói với C1 đã thanh toán tiền mua hàng.
Quá trình điều tra, anh Nguyễn Bảo L khai: Anh là quản lý giám sát an ninh tại Trung tâm thương mại A1, Hải Phòng, khi nhận được thông tin thì anh đã đến phòng an ninh để kiểm tra, phát hiện thấy C đã lén lút cho các mặt hàng chưa thanh toán từ xe đẩy hàng vào túi nilon đựng hàng đã thanh toán từ trước nên đã trình báo Cơ quan Công an.Trung tâm thương mại đã nhận lại tài sản bị mất nên không yêu cầu bồi thường gì.
Nguyễn Thị Kiều C1 khai: C1 không biết và không tham gia việc trộm cắp tài sản cùng C.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 06/QĐ-VKSLC ngày 05 tháng 08 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận L đã truy tố bị cáo Nguyễn Thái C về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thái C mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, 24 đến 30 tháng thử thách về tội Trộm cắp tài sản.
Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 túi nilon có logo Aeon và 01 túi màu xanh có chữ B
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn:
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang, chứng cứ rõ ràng, tội phạm thực hiện là ít nghiêm trọng, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định tại Điều 456 Bộ luật tố tụng Hình sự;
- Về hành vi Trộm cắp tài sản:
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, nội dung bản quyết định truy tố, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 28/01/2024, tại Trung tâm thương mại A1, Hải Phòng ở số A V, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng, bị cáo Nguyễn Thái C đã bị bắt quả tang đang thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là hàng hóa có tổng giá trị 6.126.100đ (Sáu triệu, một trăm hai mươi sáu nghìn, một trăm đồng) của Công ty TNHH A. Do vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thái C phạm tội Trộm cắp tài sản vi phạm khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản, gây mất trật tự trị an xã hội; bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, đã lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu, dùng thủ đoạn lén lút để chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, vai trò phạm tội của bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhiệm hình sự:
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; nhân thân bị cáo chưa tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bản thân bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng chống tội phạm chung
- Về hình phạt bổ sung:
[7] Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Do bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
[8] Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-Về xử lý vật chứng:
[9] Đối với 01 túi nilon Aeon và 01 túi màu xanh có chữ B, xét là vật không có giá trị sử dụng nên căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ.
- Về các vấn đề khác:
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
[11] Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái C 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, 24 (Hai mươi tư) tháng thử thách, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Thái C cho Ủy ban nhân dân phường H, quận D, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Căn cứ Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Nguyễn Thái C.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 túi nilon có logo Aeon và 01 túi màu xanh có in chữ BIDV thu giữ của bị cáo.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07 tháng 08 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hương |
Bản án số 166/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 166/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thái Cơ - Trộm cắp tài sản
