|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 111/2025/HS-ST Ngày: 28-5-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đại.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trương Thị Lệ Thanh;
Ông Dương Văn Hạnh.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thùy Trang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai; Tòa án nhân dân huyện Định Quán tiến hành xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 113/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Trần Xuân T (tên gọi khác: B); Giới tính: Nam; Sinh năm 2001, tại tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký thường trú: Xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở: Khu phố H, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Xuân C; con bà Võ Thị H; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/12/2024 đến nay. (Có mặt)
- Nguyễn Phú C1; Giới tính: Nam; Sinh năm 1996, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: Ấp F, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: Lớp 06/12; Nghề nghiệp: Tài xế; Con ông Nguyễn Văn N, con bà Phạm Thị Kim T1; Có vợ tên Đinh Thị Ngọc D và có 01 con sinh năm 2022; Tiền án: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/12/2024 đến nay. (Có mặt)
- Nguyễn Tấn H1; Giới tính: Nam; Sinh năm 1982, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú (chỗ ở): Ấp B, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Nghề nghiệp: Tài xế; Con ông Nguyễn Văn B1; Con bà Đặng Thị M (đã chết); Bị cáo có vợ tên Huỳnh Thị Ngọc H2 và có 02 con (con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2020); Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/12/2024 đến nay. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Xuân T có mối quan hệ quen biết với Nguyễn Phú C1 và Nguyễn Tấn H1 (là những người lái xe ô tô dịch vụ) do T thường xuyên thuê C1 và H1 chở đi công việc. Do không có việc làm ổn định nhưng muốn có tiền tiêu dùng cá nhân nên khoảng cuối tháng 10/2024, T bắt đầu nảy sinh ý định mua ma túy về bán kiếm lời. Thông qua mối quan hệ quen biết xã hội, T đã làm quen với một nam thanh niên tên “Nhỏ” và biết “Nhỏ” là người bán ma túy tại khu vực huyện X nên T đã sử dụng mạng xã hội Zalo của T có tên “Bin” để kết bạn với “Nhỏ” qua tài khoản Zalo để thuận lợi trong trao đổi mua bán ma túy. Mỗi khi cần mua ma túy, T sẽ gọi cho “Nhỏ” để thỏa thuận số lượng ma túy cần mua cũng như số tiền phải trả, sau đó “Nhỏ” hẹn T đến một vị trí nhất định ở thị trấn G, huyện X để thực hiện việc mua bán ma túy. Sau khi thực hiện việc mua bán ma túy xong thì T mới chuyển tiền vào tài khoản số 0394293670 Ngân hàng M1 tên Nguyen Minh H3 của “Nhỏ”. Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 10/2024 đến ngày 13/12/2024, T đã 02 lần mua ma túy của “Nhỏ”, trong đó ngày 13/12/2024, T mua 26 viên ma túy, dạng viên nén màu xanh (dạng kẹo) và 10 bịch ma túy (dạng khay) đựng trong túi nylon để bán lại kiếm lời. Sau khi mua ma túy của “Nhỏ”, T đã 04 lần bán ma túy cho Nguyễn Văn Q, sinh năm 2001, trú tại: ấp A, xã S, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng đầu tháng 11/2024 (không rõ ngày) Q sử dụng tài khoản Zalo của Q có tên “Nam Trần” gọi cho T qua tài khoản Zalo của T có tên là “Bin” để hỏi mua 2.500.000 đồng tiền mua ma túy dạng khay và 600.000 đồng tiền ma túy dạng kẹo thì T đồng ý và nói giá tiền xe đi giao ma túy là 500.000 đồng, tổng tiền là 3.600.000 đồng thì Q đồng ý. Sau đó, T thuê Nguyễn Phú C1 điều khiển xe ô tô biển số 60K – 403.42 hiệu Huyndai Accent, màu trắng, chở T ngồi ở ghế phụ phía trước đi từ thị trấn G, huyện X đến xã S, huyện Đ để giao ma túy cho Q. Khi đến điểm hẹn, T hạ cửa kính để đưa ma túy cho Q. Sau khi nhận được ma túy, Q dùng số tài khoản 33686879796666 của Ngân hàng M2 tên tài khoản Nguyễn Văn Q chuyển số tiền 3.600.000 đồng vào số tài khoản 5510105105555 của Ngân hàng M2 của T. Sau khi T và Q thực hiện việc mua bán ma túy xong, C1 nghi ngờ T là người bán ma túy nhưng không nói gì và chở T về và T trả cho Nguyễn Phú C1 500.000 đồng tiền xe.
Lần thứ hai: Vào khoảng giữa tháng 11/2024 (không rõ ngày, cách lần thứ nhất khoảng 01 tuần) Q sử dụng tài khoản Zalo của Q có tên “Nam Trần” gọi cho T qua tài khoản Zalo của T có tên là “Bin” để hỏi mua 2.500.000 đồng tiền mua ma túy dạng khay và 300.000 đồng tiền ma túy dạng kẹo thì T đồng ý và nói giá tiền xe đi giao ma túy là 500.000 đồng, tổng tiền là 3.300.000 đồng thì Q đồng ý. Sau đó, T thuê Nguyễn Tấn Hồng điều K xe ô tô biển số 60K – 136.18 hiệu MG5, màu trắng, chở T ngồi ở ghế phụ phía trước đi từ thị trấn G, huyện X đến xã S, huyện Đ để giao ma túy cho Q. Khi đến điểm hẹn, T hạ cửa kính để đưa ma túy cho Q. Sau khi nhận được ma túy, Q dùng số tài khoản 33686879796666 của Ngân hàng M2 tên tài khoản Nguyễn Văn Q chuyển số tiền 3.300.000 đồng vào số tài khoản 5510105105555 của Ngân hàng M2 của T. Sau khi T và Q thực hiện việc mua bán ma túy xong, H1 nghi ngờ T là người bán ma túy nhưng không nói gì và chở T về và T trả cho H1 500.000 đồng tiền xe.
Lần thứ ba: Vào khoảng giữa tháng 11/2024 (không rõ ngày, buổi tối của lần thứ hai) Q sử dụng tài khoản Zalo của Q có tên “Nam Trần” gọi cho T qua tài khoản Zalo của T có tên là “Bin” để hỏi mua 2.500.000 đồng tiền mua ma túy dạng khay và 300.000 đồng tiền ma túy dạng kẹo thì T đồng ý và nói giá tiền xe đi giao ma túy là 500.000 đồng, tổng tiền là 3.300.000 đồng thì Q đồng ý. Sau đó, T thuê Nguyễn Tấn Hồng điều K xe ô tô biển số 60K – 136.18 hiệu MG5, màu trắng, chở T ngồi ở ghế phụ phía trước đi từ thị trấn G, huyện X đến xã S, huyện Đ để giao ma túy cho Q. Lúc này, H1 biết rõ T thuê H1 chở đi giao ma túy cho khách nhưng do cuộc sống khó khăn và sợ T không thuê xe của H1 để đi công việc nữa nên H1 đồng ý chở T đi. Khi đến điểm hẹn, T hạ cửa kính để đưa ma túy cho Q. Sau khi nhận được ma túy, Q dùng số tài khoản 33686879796666 của Ngân hàng M2 tên tài khoản Nguyễn Văn Q chuyển số tiền 3.300.000 đồng vào số tài khoản 5510105105555 của Ngân hàng M2 của T. Sau khi bán ma túy xong, H1 chở T về và T trả cho H1 500.000 đồng tiền xe.
Lần thứ tư: Khoảng 17 giờ 58 phút ngày 13/12/2024, Q sử dụng tài khoản Zalo của Q có tên “Nam Trần” gọi cho T qua tài khoản Zalo của T có tên là “Bin” để hỏi mua ma túy thì T đồng ý. Sau đó, Q nhắn tin Z cho T với nội dung “Lấy mình h5 với 5 áo đi”, (có nghĩa là Q hỏi mua của T 5.000.000 đồng ma túy dạng khay và 5 viên ma túy dạng kẹo, với số tiền 1.500.000 đồng thì T nhắn tin trả lời “ok b”, “tổng là 5tr+1tr5+xe qua đó 600, là 7tr1 bạn nhé”, (có nghĩa là tính tổng số tiền Q phải trả cho T gồm 5.000.000 đồng tiền mua ma túy dạng khay, 1.5000.000 đồng tiền mua ma túy dạng kẹo, trả tiền xe là 600.000 đồng, tổng số tiền Q phải trả cho T là 7.100.000 đồng). Q đồng ý và hẹn T đến khu vực ấp H, xã T, huyện Đ để giao nhận ma túy. Sau đó, T gọi Nguyễn Phú C1 chở T đi giao ma túy. Lúc này, C1 biết rõ T thuê C1 chở đi giao ma túy cho khách nhưng do cuộc sống khó khăn và sợ T không thuê xe của C1 để đi công việc nữa nên C1 đồng ý điều khiển xe ô tô biển số 60K – 403.42 chỏ T đi. Khi đi, T mang theo số ma túy gồm 10 bịch nylon chứa ma túy dạng khay và 26 viên nén là mạ túy dạng kẹo cất giấu vào trong quần lót mặc trong người rồi ngồi ở hàng ghế phụ phía trước để C1 chở đi giao ma túy cho Q. Khi C1 chở T đi đến địa phận xã T, huyện Đ, thì T lấy số ma túy từ quần lót ra rồi lấy 05 viên nén ma túy dạng kẹo và 02 bịch ma túy bỏ vào một gói lylon (dạng túi zip màu xanh, bên trên có in chữ “HULK” kích thước 7x9cm) rồi cất giấu gói ma túy vào trong hộc đựng đồ ở giữa hai ghế ngồi phía trước. Số ma túy còn lại, T vẫn để trong quần lót mặc trong người nhằm mục đích có người mua T sẽ bán. Trong khi T lấy số ma túy từ trong quần lót ra, để vào trong gói nylon nhằm chuẩn bị giao bán cho Q thì C1 nhìn thấy nhưng không nói gì và tiếp tục điều khiển xe ô tô chở T đi đến điểm hẹn với Q.
Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến ấp H, xã T, T liên lạc với Q để ra lấy ma túy, trong khi T và C1 đang đợi Q đến lấy ma túy thì bị lực lượng Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng gồm: 01 bịch nylon, dạng túi zip, bên trong có chứa 21 viên nén màu xanh và 08 bịch nylon, dạng túi zip, bên trong có chứa tinh thể màu trắng được cất giấu trong quần lót phía trước của T; 01 bịch nylon, dạng túi zip, màu xanh lá, bên trong có 05 viên nén màu xanh và 02 gói nylon, dạng túi zip, bên trong có chứa tinh thể màu trắng được cất giấu trong hộc để đồ giữa ghế ngồi của T và ghế ngồi của C1.
Ngày 14/12/2024, Nguyễn Tấn H1 biết Trần Xuân T và Nguyễn Phú C1 bị bắt nên đến Công an huyện Đ đầu thú về hành vi phạm tội của mình và giao nộp xe ô tô biển số 60K – 136.18.
* Vật chứng, tài sản thu giữ gồm:
- - 01 túi nylon, bên trong có 05 viên nén màu xanh (ký hiệu M1) và 02 bịch nylon dạng túi zip bên trong có chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M2);
- - 01 gói nylon, bên trong có 08 bịch nylon dạng túi Zip bên trong có chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M3) và 21 viên nén màu xanh (ký hiệu M4);
- - 01 xe ô tô biển số 60K – 403.42, nhãn hiệu Huyndai Accent, màu trắng;
- - 01 xe ô tô biển số 60K – 136.18, hiệu MG5, màu trắng;
- - 01 điện thoại di động, hiệu Iphone, loại Xs Max, màu đen, gắn số thuê bao 0896.910.963;
- - 01 điện thoại di động, hiệu Redmi, loại Note 13, màu đen, gắn số thuê bao 0332.751.485.
- - 02 vỏ túi Zip màu xanh in chữ “HULK”, kích thước 7x9cm và 01 (một) vỏ túi Zip màu đỏ bị xẻ rách in dòng chữ “Barely Legal" kích thước 7x9cm.
- - Số tiền 9.200.000 đồng, gồm: 500.000 đồng của Nguyễn Tấn H1 tự nguyện giao nộp; 8.700.000 đồng của Trần Xuân T giao nộp do bán ma túy mà có;
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trưng cầu giám định tang vật. Tại Bản kết luận giám định số 7696/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Phân viện kỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, xác định:
- - Mẫu ký hiệu M1: 05 viên nén màu xanh là ma túy, loại MDMA, khối lượng 2,3111 gam;
- - Mẫu ký hiệu M2; 02 gói nylon, bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 2,7667 gam;
- - Mẫu ký hiệu M3; 08 gói nylon, bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 11,2838 gam;
- - Mẫu ký hiệu M4; 21 viên nén màu xanh là ma túy, loại MDMA, khối lượng 9,8882 gam.
Đối với xe ô tô biển số 60K – 403.42, hiệu Huyndai Accent, màu trắng. Quá trình điều tra, xác định chủ sở hữu là bà Đoàn Thị H4, sinh năm 1965, trú tại ấp S, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Xe ô tô trên do Nguyễn Phú C1 thuê của bà H4 để chạy dịch vụ, bà H4 không biết việc C1 sử dụng xe ô tô trên để chở Trần Xuân T đi mua bán trái phép chất ma túy. Do đó, Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại xe ô tô cho bà H4.
Đối với xe ô tô biển số 60K – 136.18, hiệu MG5. Quá trình điều tra, xác định chủ sở hữu là anh Nguyễn Hồng V, sinh năm 1983, trú tại ấp B, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Xe ô tô trên do Nguyễn Tấn H1 thuê của anh V để chạy dịch vụ, anh V không biết việc H1 sử dụng xe ô tô trên để chở Trần Xuân T đi mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 27/02/2025, Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại xe ô tô cho anh V.
Đối với đối tượng “Nhỏ” ở khu vực huyện X đã bán ma tuý cho Trần Xuân T. Quá trình điều tra, xác định số tài khoản 0394293670 thuộc Ngân hàng M2 của “Nhỏ” sử dụng để nhận tiền ma túy của T, do Nguyễn Minh H5, sinh ngày 12/12/2006, trú tại ấp D, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai đứng tên đăng ký. Cơ quan điều tra đã xác minh tại nơi cư trú của Nguyễn Minh H5 nhưng hiện nay H5 không có mặt tại địa phương, đi đâu làm gì không rõ nên chưa làm việc được. Do đó, sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Đối với Nguyễn Văn Q đã có hành vi mua ma túy của Trần Xuân T để sử dụng cho bản thân. Tại thời điểm bắt quả tang, việc mua bán ma túy giữa T với Q chưa thực hiện giao dịch thành công nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với Q.
Tại Cáo trạng số 119/CT-VKSĐQ, ngày 06 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố các bị cáo Trần Xuân T và Nguyễn Phú C1 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); truy tố bị cáo: Nguyễn Tấn H1 tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Xuân T 12 năm đến 13 năm tù; Xử phạt bị cáo Nguyễn Phú C1 08 năm đến 09 năm tù; Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn H1 03 năm đến 04 năm tù. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Toà tuyên: Tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 9.200.000 đồng; 01 điện thoại di động, hiệu Iphone, loại Xs Max, màu đen, gắn số thuê bao 0896.910.963; 01 điện thoại di động, hiệu Redmi, loại Note 13, màu đen, gắn số thuê bao 0332.751.485; Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói niêm phong vụ số 7696/KL-KTHS của Phân viện kỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh; 02 vỏ túi Zip màu xanh in chữ “HULK”, kích thước 7x9cm và 01 (một) vỏ túi Zip màu đỏ bị xẻ rách in dòng chữ “Barely Legal” kích thước 7x9cm; Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có cơ sở để xác định: Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 10/2024 đến ngày 13/12/2024, Trần Xuân T đã 02 lần mua ma túy của đối tượng “Nhỏ”, trong đó ngày 13/12/2024, T mua 26 viên ma túy, dạng viên nén màu xanh (dạng kẹo) và 10 bịch ma túy (dạng khay) đựng trong túi nylon để bán lại kiếm lời. Sau khi mua ma túy của “Nhỏ”, T đã bán ma túy cho Nguyễn Văn Q 04 lần, cụ thể: Lần 1: vào đầu tháng 11/2024, T đã bán ma túy cho Q với số tiền 3.100.000 đồng; Lần 2: Vào khoảng giữa tháng 11/2024, T đã bán ma túy cho Q với số tiền 2.800.000 đồng; Lần 3: Vào buổi tối cùng ngày với lần 2, với sự giúp sức của Nguyễn Tấn H1, T đã bán ma túy cho Q với số tiền 2.800.000 đồng; Lần 4: Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 13/12/2024, với sự giúp sức của Nguyễn Phú C1, T bán ma túy cho Q với số lượng ma túy gồm: 05 viên nén màu xanh là ma túy, loại MDMA, khối lượng 2,3111 gam; 02 gói nylon, bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 2,7667 gam; 08 gói nylon, bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 11,2838 gam; 21 viên nén màu xanh là ma túy, loại MDMA, khối lượng 9,8882 gam (tổng khối lượng ma túy loại MDMA là 12,1993 gam; Tổng khối lượng ma túy loại Ketamine là 14,0505 gam), với số tiền 6.500.000 đồng. Khi T và C1 đang chờ giao ma túy cho Q thì bị Công an phát hiện và bắt quả tang. Vì vậy, có đầy đủ căn cứ xác định: Hành vi do bị cáo Trần Xuân T thực hiện đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp quy định tại điểm b, điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Hành vi do bị cáo Nguyễn Phú C1 thực hiện đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Hành vi do bị cáo Nguyễn Tấn H1 thực hiện đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Xét vị trí vai trò của từng bị cáo, về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
[3.1] Xét vị trí vai trò của từng bị cáo cho thấy: Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, Trần Xuân T là người khởi xướng, rủ rê và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, Nguyễn Phú C1 và Nguyễn Tấn H1 đồng phạm với vai trò giúp sức.
[3.2] Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì ma túy là loại độc dược gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý, Nhà nước nghiêm cấm các hoạt động mua bán trái phép chất ma túy, các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức hình phạt đủ nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng phạt, răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Bị cáo C1, bị cáo H1 là lao động chính trong gia đình có con còn nhỏ. Riêng bị cáo H1 đầu thú về hành vi phạm tội của mình.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 9.200.000 đồng; 01 điện thoại di động, hiệu Iphone, loại Xs Max, màu đen, gắn số thuê bao 0896.910.963; 01 điện thoại di động, hiệu Redmi, loại Note 13, màu đen, gắn số thuê bao 0332.751.485.
- - Cần tịch thu và tiêu hủy: 04 gói niêm phong vụ số 7696/KL-KTHS của Phân viện kỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh; 02 vỏ túi Zip màu xanh in chữ “HULK”, kích thước 7x9cm và 01 (một) vỏ túi Zip màu đỏ bị xẻ rách in dòng chữ “Barely Legal" kích thước 7x9cm.
[7] Về tội danh, điều luật, mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng là phù hợp và có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Xét ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo thống nhất với tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng và không có ý kiến tranh luận gì về tội danh cũng như về hình phạt, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo biết hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng của bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Áp dụng Điều 326, Điều 327 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Căn cứ điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tuyên bố bị cáo Trần Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Trần Xuân T 12 (mười hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 13/12/2024.
- - Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Phú C1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Phú C1 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 13/12/2024.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tấn H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn H1 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 14/12/2024.
- - Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 9.200.000 đồng; 01 điện thoại di động, hiệu Iphone, loại Xs Max, màu đen, gắn số thuê bao 0896.910.963; 01 điện thoại di động, hiệu Redmi, loại Note 13, màu đen, gắn số thuê bao 0332.751.485.
- - Tịch thu và tiêu hủy: 04 gói niêm phong vụ số 7696/KL-KTHS của Phân viện kỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh; 02 vỏ túi Zip màu xanh in chữ “HULK”, kích thước 7x9cm và 01 (một) vỏ túi Zip màu đỏ bị xẻ rách in dòng chữ “Barely Legal” kích thước 7x9cm.
- (Vật chứng nêu trên đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Định quán theo quyết định chuyển vật chứng số 211/ QĐ-VKS- HS ngày 06/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán và Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08 tháng 5 năm 2025 và Biên lai thu tiền số 0006194 ngày 09/5/2025.)
- - Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Buộc các bị cáo Trần Xuân T, Nguyễn Phú C1, Nguyễn Tấn H1 mỗi người phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Các bị cáo Trần Xuân T, Nguyễn Phú C1, Nguyễn Tấn H1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Đại |
9
Bản án số 111/2025/HS-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về mua bán trái phép chất ma túy (illegal trading of narcotics)
- Số bản án: 111/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Illegal trading of narcotics)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” 1
