Hệ thống pháp luật

1

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:166/2025/HNGĐ-ST

Ngày 03 - 4 - 2025

V/v tranh chấp hôn nhân gia
đình về “ Ly hôn ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Chiến

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trương Thanh Nhàn
  2. Ông Nguyễn Văn Ngân

Thư ký phiên toà: ông Trần Thiện Nhân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Phong – Kiểm sát viên sơ cấp

Trong ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 19/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025, về tranh chấp hôn nhân và gia đình “Xin ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST- HN ngày 17 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: anh Lê Văn P, sinh năm 1978.

Nơi cư trú: tổ A, ấp T, xã T, huyện P, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0919.713.xxx;

2. Bị đơn: chị Từ Thị Cẩm V, sinh năm 1979.

Nơi cư trú: tổ A, ấp T, xã T, huyện P, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0368.968.xxx;

(Các đương sự có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Căn cứ theo đơn khởi kiện, biên bản hòa giải anh Lê Văn P trình bày như sau: Anh và chị V tự quen biết, tìm hiểu nhau chung sống như vợ chồng từ năm 2000, không có tổ chức lễ, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh An Giang được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 93/2009 ngày 05 tháng 8 năm 2009.

Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, do công việc của anh làm nghề tài xế lái xe thời gian không cố định, nên chị V thường xuyên ghen tuông, mâu thuẫn phát sinh giữa chị V với mẹ của anh, làm cho anh cũng nhiều lần khó xử, sau đó cũng hoà thuận chung sống, đến năm 2005 vợ chồng ra ở riêng đối diện nhà cha mẹ anh kéo dài đến ngày 30/4/2024, con gái tên Lê Thanh N thấy anh có nhắn tin trêu ghẹo với một người phụ nữ khác, anh có giải thích với gia đình về tin nhắn đó, nhưng chị V cho rằng anh không chung thuỷ xảy ra mâu thuẫn trong gia đình kéo dài đến tháng 10/2024 anh nộp đơn xin ly hôn với chị V tại Toà án Phú Tân và được Tòa án thụ lý giải quyết, nhưng qua hòa giải động viên vợ chồng cần có thời gian hàn gắn tình cảm và anh rút đơn, Toà án đình chỉ giải quyết vụ án, nhưng cho đến nay cũng không thể hàn gắn được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng vì không còn muốn tiếp tục chung sống nữa.

Khoảng tháng 01/2025, chị V gửi các bản photo đoạn tin nhắn chụp lén cuộc trò chuyện của anh và người phụ nữ đó đến chỗ anh hợp đồng lái xe, làm cho anh bị mất uy tín trong công việc và kinh doanh mua bán gạo gặp khó khăn thua lỗ, nên từ đó phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung và ly thân cho đến nay. Quá trình ly thân anh cũng không muốn hàn gắn vì không còn muốn tiếp tục chung sống với chị V nữa, nay yêu cầu được ly hôn với chị Từ Thị Cẩm V.

Về con chung: có 02 con chung tên Lê Thành N1, sinh ngày 02/4/2001 và Lê Thanh N, sinh ngày 07/01/2005, hiện đã thành niên và lao động được nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: không có.

* Bị đơn chị Từ Thị Cẩm V trình bày:

Về cuộc sống hôn nhân của chị và anh Lê Văn P xảy ra nhiều chuyện, vào ngày 30/4/2024 con gái tên Lê Thanh N phát hiện và chụp lại đoạn tin nhắn của anh P nhắn tin thân mật với một người phụ nữ khác, đến khoảng tháng 6/2024 con gái mới cho chị hay sự việc này và từ đó vợ chồng mâu thuẫn kéo dài, sau đó anh P bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống và không muốn tiếp tục hàn gắn tình cảm. Đến khoảng tháng 01/2025 thì chị có gửi bản photo ảnh chụp các đoạn tin nhắn của anh P và người phụ nữ khác đến đơn vị anh P hợp đồng lái xe từ thiện để nơi đây biết can thiệp, sau đó anh P còn thách thức chị và nộp đơn khởi kiện ly hôn với chị nhiều lần, từ đó vợ chồng không còn tiếng nói chung và anh P cũng không có ý chí hàn gắn tình cảm nữa. Quá trình ly thân anh P cũng không liên lạc hàn gắn tình cảm, nay anh P yêu cầu ly hôn chị không đồng ý ly hôn vì muốn giữ hạnh phúc gia đình và các con.

Về con chung: có 02 con chung tên Lê Thành N1, sinh ngày 02/4/2001 và Lê Thanh N, sinh ngày 07/01/2005, hiện đã thành niên và lao động được nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: không có.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật,

- Về nội dung: Hôn nhân của anh, chị được xác lập do hai ngườ tự tìm hiểu, tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2000, không tổ chức lễ cưới, đến năm 2009 thì đăng ký kết hôn tại UBND T, huyện P, tỉnh An Giang được cấp giấy ngày 05/8/2009, thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến ngày 30/4/2024 thì phát sinh mâu thuẩn trong cuộc sống, anh P cho rằng sống không hoà hợp thường xuyên cãi vả, anh làm nghề lái xe thời gian không cố định, chị V hay ghen tuông cho rằng anh sống không chung thuỷ từ đó xung đột hàng ngày kéo dài đến tháng 6/2024 ly thân cho đến nay, trong thời gian đó anh cũng gởi đơn đến Toà án xin ly hôn được hoà giải để anh chị có thời gian hàn gắn nhưng không hàn gắn được, chị V cho rằng tình cảm vợ chồng vẫn còn để có thời gian hàn gắn, nhưng sau khi ly thân anh chị không chủ động để hàn gắn, mà chị V sao chép những thông tin trên điện thoại của anh P gởi cho đơn vị anh P hợp đồng lái xe, làm cho mâu thuẫn giữa hai người càng trầm trong hơn, từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, phù hợp với lời trình bày của bà Đỗ Thị T (mẹ ruột anh P nhà đối diện nhà anh P chị V). Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh P1 theo Điều 56 Luật HNGĐ năm 2014

- Về con chung: có 02 con chung tên Lê Thành N1, sinh ngày 02/4/2001 và Lê Thanh N, sinh ngày 07/01/2005, hiện đã thành niên và lao động nuôi sống bản thân, anh chị đều không yêu cầu giải quyết, nên không đặt ra xem xét.

- Về tài sản và nợ chung: không có tranh chấp nên không giải quyết

Buộc các đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn chị V cư trú xã T, huyện P, tỉnh An Giang. Nên anh P khởi kiện xin ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng Dân sự.

[1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: anh P yêu cầu xin ly hôn nên quan hệ pháp luật tranh chấp là “ Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng Dân sự.

[2] Về nội dung: Xét chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện, hôn nhân của anh, chị được xác lập do hai ngườ tự tìm hiểu, tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2000, không tổ chức lễ cưới, đến năm 2009 thì đăng ký kết hôn tại UBND T, huyện P, tỉnh An Giang. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến ngày 30/4/2024 thì phát sinh mâu thuẩn trong cuộc sống, anh P cho rằng sống không hoà hợp thường xuyên cãi vả, anh làm nghề lái xe thời gian không cố định, chị V hay ghen tuông cho rằng anh sống không chung thuỷ từ đó xung đột hàng ngày kéo dài đến tháng 6/2024 ly thân cho đến nay, trong thời gian đó anh P cũng gởi đơn đến Toà án xin ly hôn được hoà giải để anh chị có thời gian hàn gắn nhưng không hàn gắn được, chị V cho rằng tình cảm vợ chồng vẫn còn để có thời gian hàn gắn, nhưng sau khi ly thân anh, chị không chủ động để hàn gắn, mà chị V sao chép những thông tin trên điện thoại của anh P gởi cho đơn vị anh P hợp đồng lái xe, làm cho mâu thuẫn giữa hai người càng trầm trong hơn, chị V cũng thừa nhận sau khi ly thân anh P cũng không muốn hàn gắn, vợ chồng không còn tiếng nói chung, từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, phù hợp với lời trình bày của bà Đỗ Thị T (mẹ ruột anh P nhà đối diện nhà anh P chị V), do đó HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh P theo Điều 56 Luật HNGĐ năm 2014

- Về con chung: có 02 con chung tên Lê Thành N1, sinh ngày 02/4/2001 và Lê Thanh N, sinh ngày 07/01/2005, hiện đã thành niên và lao động nuôi sống bản thân, anh chị đều không yêu cầu giải quyết, nên không đặt ra xem xét.

- Về tài sản và nợ chung: không có tranh chấp nên không giải quyết

Ngoài ra, các bên không tranh chấp về vấn đề gì khác nên không đặt ra xem xét.

[3] Về án phí: anh Lê Văn P là người xin ly hôn, nên phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ Luật tố tụng Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự;
  • - Căn cứ Điều 26; Điều 27; Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
  • - Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn P được ly hôn với chị Từ Thị Cẩm V
  • - Về quan hệ con chung có 02 con chung đã thành niên tự lao động nuôi sống bản thân, nên không giải quyết.
  • - Về quan hệ tài sản và nợ chung: không đặt ra để giải quyết
  • - Về án phí sơ thẩm: anh Lê Văn P phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0011769 ngày 16/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, chị Từ Thị Cẩm V không phải chịu án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thanh N2 – Nguyễn Văn N3

Bùi Văn C

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 166/2025/HNGĐ-ST ngày 03/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân gia đình về ly hôn

  • Số bản án: 166/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình về Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger