|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 166/2025/HS-ST Ngày: 26-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thành Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Chánh
- Bà Lê Thị Ngọc Ngân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 165/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 159/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Phạm Hoàng T; Giới tính: Nam;
- Họ và tên: Nguyễn Hữu G; Giới tính: Nam;
Tên gọi khác: Tý Bà L;
Sinh ngày 14 tháng 12 năm 1993, tại Đồng Nai;
Nơi đăng ký thường trú: K, khu phố C, phường B, TP ., tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: K, khu phố C, phường B, TP ., tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không;
Trình độ học vấn: 10/12 - Nghề nghiệp: Không - Chức vụ: Không;
Họ và tên cha: Phạm Quan T1, sinh năm: 1969 (Còn sống);
Họ và tên mẹ: Trần Mỹ L1, sinh năm: 1969 (Còn sống);
Gia đình có 04 anh, em, bị cáo là con thứ hai;
Họ và tên vợ: Trần Thị Thủy T2, sinh năm: 1994.
Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019.
Nhân thân: Ngày 21/3/2012, bị Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai tuyên xử 01 năm tù về tội “Không tố giác tội phạm”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/12/2012.
Ngày 15/8/2022, Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà đình chỉ vụ án do bị hại rút yêu cầu khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo Phạm Hoàng T được tuyên trả tự do ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Tiền án: Ngày 29/3/2024, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà tuyên xử 11 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/10/2024.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 08/01/2025, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực B.
(có mặt)
Tên gọi khác: Chó;
Sinh ngày 03 tháng 02 năm 2002, tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: không có nơi cư trú ổn định (Đăng ký thường trú: K3/108, tổ A, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai).
Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh; - Tôn giáo: Không;
Trình độ học vấn: 0/12 - Nghề nghiệp: Không - Chức vụ: Không;
Họ và tên cha: Nguyễn Hữu P, sinh năm: 1966 (Đã chết);
Họ và tên mẹ: Ngô Thị B, sinh năm: 1971 (còn sống);
Gia đình có 03 chị, em, bị cáo là con thứ ba;
Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: Ngày 29/3/2024, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà tuyên xử 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/8/2024.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 08/01/2025, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực B.
(có mặt)
- Bị hại: Ông Nguyễn Văn G1, sinh năm 1960
Địa chỉ: K, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(có mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Minh P1, sinh năm 1982
Địa chỉ: F, khu phố C, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính của vụ án:
Phạm Hoàng T và Nguyễn Hữu Giàu C quen biết với nhau, cả hai đều không có nghề nghiệp nên đã rủ nhau đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài.
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 07/01/2025, T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 60F2 - 251.78, chở G đi đến đoạn đường đang sửa chữa, nâng cấp tại: Hẻm A, đường N, tổ G, khu phố C, P. B, TP ., thì thấy 01 máy đầm đất cầm tay hiệu Fuji Vibration Rammer ER-D, của ông Nguyễn Văn G1 (sinh năm 1960, ĐKTT: Khu phố C, phường B, TP .) thuê để sử dụng vào việc sửa chữa, nâng cấp đoạn đường hẻm A. G và T cùng xuống xe, bê máy đầm đất đặt lên yên xe mô tô. Sau đó T điều khiển xe chở G ngồi sau giữ máy đầm đất, đem đến tiệm phế liệu tại khu phố C, P. H, TP ., tỉnh Đồng Nai, bán cho ông Lê Minh P1 (Sinh năm: 1982) được 1.000.000đ (Một triệu đồng), G giữ 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng), đưa T 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng), số tiền này cả hai đã tiêu xài hết. Khi mua máy đầm đất, ông P1 không biết đây là tài sản do T và G trộm cắp đem bán.
Sự việc xảy ra, ông Nguyễn Văn G1 đã trình báo Công an phường B lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T xử lý theo quy định.
Vật chứng của vụ án:
- Số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng), T và Giàu có được từ việc bán tài sản trộm cắp, các bị cáo đã chia nhau tiêu xài hết, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được.
- 01 máy đầm đất cầm tay hiệu Fuji Vibration Rammer ER-D, các bị cáo đã lấy trộm tại khu vực công trình sửa chữa, nâng cấp đường H, đường N, khu phố C, P. B, TP ., do ông Nguyễn Văn G1 đang quản lý, trông coi. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi, trả lại cho ông G1.
- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 60F2 - 251.78, của ông Phạm Quan T1 (sinh năm 1969, ĐKTT: khu phố C, phường B, TP ., tỉnh Đồng Nai, là bố của Phạm Hoàng T), cho T mượn để sử dụng. Ông T1 không biết việc T và G sử dụng chiếc xe trên để đi trộm cắp tài sản, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi và trả lại cho ông T1.
- 01 (một) USB chứa video ghi lại nội dung vụ án (Lưu hồ sơ vụ án);
- Kết luận định giá số 05/KL-HĐĐGTS, ngày 10/01/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 máy đầm đất cầm tay hiệu Fuji Vibration Rammer FR-D, trị giá 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng)”.
Về dân sự:
Ông Nguyễn Văn G1 đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu các bị cáo bồi thường.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Lê Minh P1 không yêu cầu các bị cáo bồi thường.
2. Truy tố:
Tại Cáo trạng số: 201/CT-VKSBH-HS ngày 05/3/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Phạm Hoàng T và Nguyễn Hữu G về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị;
Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Phạm Hoàng T từ 10 (mười) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù, bị cáo Nguyễn Hữu G từ 10 (mười) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.
Buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng các bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tố tụng:
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
- Những chứng cứ xác định có tội:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, kết luận định giá tài sản, biên bản lấy lời khai bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 07/01/2025, tại đoạn đường đang sửa chữa, nâng cấp, địa chỉ: Hẻm A, đường N, tổ G, khu phố C, phường B, TP ., Nguyễn Hữu G và Phạm Hoàng T đã có hành vi trộm cắp 01 máy đầm đất cầm tay hiệu Fuji Vibration Rammer FR-D, trị giá 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng), của ông Nguyễn Văn G1 thuê để sử dụng. Sau đó, T và G bị bắt giữ, khởi tố điều tra, xử lý theo quy định.
- Về tội danh:
Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Phạm Hoàng T và Nguyễn Hữu G phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Như vậy, bản cáo trạng số 201/CT-VKSBH-HS ngày 05/3/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được Nhà nước bảo vệ, gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong đời sống của người dân tại các khu dân cư. Các bị cáo là người là người đã trưởng thành, biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Các bị cáo có nhân thân xấu, có tiền án nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội, điều đó thể hiện thái độ coi thường pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo T và G tái phạm (quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự).
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự).
Vai trò của từng bị cáo trong vụ án, nhận thấy: Các bị cáo T và G phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn: Bị cáo G là người rủ rê và hai bị cáo cùng trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trị giá 4.500.000₫ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Do đó bị cáo G chịu mức án cao hơn, bị cáo T chịu mức án thấp hơn.
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung. Đồng thời Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện tính nhân đạo và sự khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.
[3] Về vật chứng:
Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng), T và Giàu có được từ việc bán tài sản trộm cắp, các bị cáo đã chia nhau tiêu xài hết, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được.
- 01 máy đầm đất cầm tay hiệu Fuji Vibration Rammer ER-D, các bị cáo đã lấy trộm tại khu vực công trình sửa chữa, nâng cấp đường H, đường N, khu phố C, P. B, TP ., do ông Nguyễn Văn G1 đang quản lý, trông coi. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi, trả lại cho ông G1 nên không xem xét giải quyết.
- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 60F2 - 251.78, của ông Phạm Quan T1 (sinh năm 1969, ĐKTT: khu phố C, phường B, TP ., tỉnh Đồng Nai, là bố của Phạm Hoàng T), cho T mượn để sử dụng. Ông T1 không biết việc T và G sử dụng chiếc xe trên để đi trộm cắp tài sản, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi và trả lại cho ông T1 nên không xem xét giải quyết.
- 01 (một) USB chứa video ghi lại nội dung vụ án lưu hồ sơ vụ án;
[4] Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự:
Ông Nguyễn Văn G1 đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu các bị cáo bồi thường và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Lê Minh P1 không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về vấn đề khác:
Đối với ông Lê Minh P1 đã mua máy đầm đất hiệu Fuji Vibration Rammer FR-D. Khi mua ông P1 không biết tài sản trên do các bị cáo trộm cắp đem bán. Vì vậy, không xem xét xử lý hình sự đối với ông P1.
[6] Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên:
Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị mức hình phạt phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):
- Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu G 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 01 năm 2025.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Phạm Hoàng T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc bị cáo Nguyễn Hữu G phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thành Thị Thu Trang |
Bản án số 166/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 166/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo đồng phạm trộm cắp tài sản
