Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 166/2025/DS-PT

Ngày 20-3-2025

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huỳnh;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Dũng;
Ông Nguyễn Văn Tài.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 14 và 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 588/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 119/2025/QĐ-PT ngày 13 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

Bà Phạm Thị L, sinh năm 1961; địa chỉ: ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Bị đơn:

Ông Trương Thanh H, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Ngô Thị Mỹ C, sinh năm 1983; địa chỉ: ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; có mặt.
  2. Ông Đặng An H1, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; có mặt.
  3. Bà Đặng Thị Minh N, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  4. Bà Trần Thị T, sinh năm 1954; địa chỉ: ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
  5. Bà Trương Thị Mai H2, sinh năm 1973; địa chỉ: ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
  6. Bà Trương Thị Mai H3, sinh năm 1970; địa chỉ: ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
  7. Ông Trương Thanh X, sinh năm 1975; địa chỉ: ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
  8. Bà Trương Thị Thanh V, sinh năm 1967; địa chỉ: ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
  9. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1934; địa chỉ: ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
  10. Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
  11. Ông Trương C1, sinh năm 1936 (chết ngày 31/3/2023); địa chỉ: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.

    Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Trương C1:

    1. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1934; địa chỉ: ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương (vợ); có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
    2. Bà Trương Thị Mai H2, sinh năm 1973; địa chỉ: ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương (con); có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
    3. Bà Trương Thị Mai H3, sinh năm 1970; địa chỉ: ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương (con); có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
    4. Ông Trương Thanh X, sinh năm 1975; địa chỉ: ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương (con); có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
    5. Bà Trương Thị Thanh V, sinh năm 1967; địa chỉ: ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương (con); có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
    6. Ông Trương Thanh H, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương (con); có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Ông Lê Đình Đ, sinh năm 1947; địa chỉ thường trú: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
  2. Ông Huỳnh Minh L1, sinh năm 1962; địa chỉ thường trú: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
  3. Ông Phạm Hoàng T2, sinh năm 1983; địa chỉ thường trú: Ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Người kháng cáo: nguyên đơn bà Phạm Thị L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo Đơn khởi kiện ngày 11/12/2020, Đơn khởi kiện bổ sung ngày 23/3/2023, quá trình tố tụng giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị L trình bày:

Vào khoảng trước năm 1991, ông T3 (chết năm 2019) là chồng của bà L có nhận chuyển nhượng 01 phần đất của ông ba Đ tại ấp H, xã M, huyện D, cụ thể diện tích đất là như thế nào thì L không rõ. Sau này, gia đình L có khai phá thêm được 01 phần đất tiếp giáp với phần đất đã mua trước đó của ông Đ. Khi Nhà nước có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì gia đình L có tiến hành đăng ký kê khai theo quy định, đến ngày 18/12/2000 thì được Ủy ban nhân dân huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00592/QSDĐ/QĐ-UB với tổng diện tích là 16.519m²; gồm các thửa số 277, tờ bản đồ số 36 diện tích là 9.325m², thửa đất số 182 tờ bản đồ số 36 diện tích là 2.910m². Giáp ranh thửa đất số 277, tờ bản đồ số 36 là đất của ông Trương Thanh H thuộc thửa đất số 162, tờ bản đồ số 36.

Thời điểm ông T3 mua đất của ông ba Đ thì không có đo đạc thực tế nên không biết được diện tích cụ thể là bao nhiêu, số tiền mua đất là bao nhiêu thì bà L cũng không rõ vì ông T3 là người đứng ra thực hiện các giao dịch này. Thời điểm này bà L sinh con, bận chăm sóc các con nên cũng không có quan tâm, đến các phần đất này, sau này các con khôn lớn thì bà L bận buôn bán, ít khi để ý đến phần đất rẫy nêu trên. Bà L khẳng định phần đất ông ba Đ bán cho ông T3 và sau này ông T3 khai phá thêm một phần hiện nay thuộc thửa đất số 277, thửa đất 182 tờ bản đồ số 36 có địa chỉ tại ấp H, xã M, huyện D và bao gồm cả diện tích đất mà hiện nay bà L đang tranh chấp với ông H và bà C.

Phần đất của ông H và bà C đang quản lý, sử dụng có nguồn gốc là đất của ông Trương C1 và bà Nguyễn Thị T1 là cha mẹ của ông H chuyển nhượng lại cho ông H và vợ tên C, phần đất ông H có diện tích là 20.891m². Thời điểm ông C1 và bà T1 chuyển nhượng lại thửa đất 162, tờ bản đồ số 36 cho ông H và bà C thì gia đình bà L không biết, cũng không phản đối việc ông H và bà C sử dụng đất.

Trước đây, khi ông T3 còn sống có nói với bà L là ông C1 và bà T1 (cha mẹ đẻ của ông H) có lấn đất của gia đình nhưng ông T3 nói là đất của mình đã có sổ đỏ thì vẫn là đất của mình. Từ khi được cấp quyền sử dụng đất đến nay, giữa thửa đất số 277 và thửa đất số 162 không có ranh giới rõ ràng, ranh giới giữa hai thửa đất ban đầu là đường xe bò đi, sau này thì do quá trình canh tác của cha mẹ ông H là ông C1 và bà T1 nên đường xe bò bị mất. Do đó, đến thời điểm hiện nay, giữa thửa đất số 277 và thửa đất số 162 cũng không có ranh đất rõ ràng, chỉ là mấy cây rừng tự mọc.

Hiện nay, bà L xác định, ông H và bà C là người lấn chiếm đất của gia đình với diện tích 2.340,6m². Trước đây là gia đình bà L quản lý, sử dụng đất tranh chấp, sử dụng đất từ thời điểm nào thì bà L không có nhớ và không có chứng cứ để chứng minh. Sau này phần đất tranh chấp được ông C1 và bà T1 là cha mẹ của ông H quản lý sử dụng, sử dụng từ thời điểm nào thì bà L không biết. Đến năm 2006 thì ông H và bà C sử dụng. Bà L và gia đình từ trước năm 2006 đến nay không sử dụng phần đất tranh chấp 2.340,6m² nêu trên. Ông H và bà C hoàn toàn biết sự việc trên nhưng không trả lại đất cho gia đình bà L. Phần đất lấn chiếm hiện nay qua đo đạc có diện tích là 2.340,6m² thuộc một phần thửa đất số 277, tờ bản đồ số 36 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00592 QSDĐ/QĐ-UB do UBND huyện D cấp ngày 18/12/2000 cho hộ ông Đặng Đình T3. Hộ gia đình ông T3 gồm có ông T3, bà L và hai con là A và H1, cha của ông T3 tên Đặng Văn T4 đã chết năm 1983 và không có giấy chứng tử, mẹ của ông T3 là bà Trần Thị L2, sinh năm 1932, chết năm 2013 (chết trước ông T3).

Ngày 24/6/2019, ông Đặng Đình T3 chết, đến năm 2020, bà L tiến hành đo đạc lại phần đất có diện tích là 9.325m² thuộc thửa đất số 277, 182 tờ bản đồ số 36 để làm thủ tục thừa kế giữa các thành viên trong hộ gia đình thì phát hiện thửa đất số 277 thiếu diện tích, cụ thể là diện tích đo đạc thực tế với diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sự chênh lệch. Ông H và bà C đã lấn sang phần đất của gia đình bà L qua đo đạc thực tế hiện nay là 2.340,6m² theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc, chỉnh lý số 160-2023 ngày 11/01/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Nhà nước cấp cho gia đình bà L có diện tích là bao nhiêu thì bà L yêu cầu được sử dụng bấy nhiêu.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà L trình bày: Năm 2020, bà L có ký hợp đồng đo đạc với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D. Khi tiến hành đo đạc lại thửa đất 277, 182 để nhằm tiến hành chia di sản thừa kế của ông T3 chết để lại, giữa bà L với các chủ đất liên ranh trong đó có ông H có tiến hành xác định ranh đất để cán bộ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D thực hiện việc đo đất. Bà L cùng với ông H, các chủ đất liên ranh đã ký vào Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất do cán bộ cán bộ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D cung cấp, sau khi ký có đưa lại cho cán bộ địa chính xã M, huyện D giữ. Theo đó, ranh đất giữa thửa đất của bà L (thửa 277) và thửa đất của ông H (thửa 162) được xác định như hiện trạng đất hiện nay các bên đương sự đang sử dụng, và phần đất bà L chỉ ranh cho cán bộ cán bộ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D thực hiện đo đạc không bao gồm cả diện tích đất 2.340,6m² mà các bên đương sự tranh chấp. Sau này, khi cán bộ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D thông báo diện tích của thửa đất 277 qua đo đạc thực tế giảm so với diện tích của thửa đất 277 tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà L mới đi tìm hiểu và biết được diện tích đất thiếu là do ông H và bà C lấn chiếm. Đồng thời bà L có báo với cán bộ địa chính xã M và anh T5 là cán bộ thực hiện đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D là không đồng ý với việc ký tên tại Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất, bà L nói với anh T5 là hủy Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất và bà L sẽ không tiến hành thanh lý bản vẽ của thửa 182, 277 với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D.

Bà L yêu cầu ông Trương Thanh H và bà Ngô Thị Mỹ C phải trả lại cho bà Phạm Thị L cùng 02 con là Đặng An H1 và Đặng Thị Minh N phần đất có diện tích đất qua đo đạc là 2.340,6m² thuộc một phần thửa đất số 277, tờ bản đồ số 36 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00592 QSDĐ/QĐ-UB do UBND huyện D cấp ngày 18/12/2000 cho hộ ông Đặng Đình T3. Đối với tài sản trên đất gồm có 02 cây lồng mức tự mọc và 115 cây cao su được ông H và bà C trồng năm 2006, các tài sản này bà L yêu cầu ông H và bà C phải tự di dời để trả lại đất.

Bà L đồng ý với kết quả đo đạc tại Mảnh trích lục địa chính có đo đạc, chỉnh lý số 160-2023 ngày 11/01/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D và kết quả định giá tài sản tranh chấp tại Biên bản định giá ngày 12/7/2023 của Hội đồng định giá.

Bà L rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với ông H và bà C đối với phần đất có diện tích là 0,4m² là phần chênh lệch giữa kết quả đo đạc thực tế và đơn khởi kiện. Bà L cũng không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với phần đất có diện tích 105,6m² thuộc một phần thửa đất số 278 tờ bản đồ số 36 có địa chỉ tại xã M, huyện D được xác định tại Mảnh trích lục địa chính có đo đạc, chỉnh lý số 160-2023 ngày 11/01/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D.

Đối với yêu cầu khởi kiện phản tố của bị đơn, nguyên đơn không đồng ý.

- Tại Đơn phản tố ngày 31/10/2023, quá trình tố tụng giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn ông Trương Thanh H trình bày:

Sau giải phóng năm 1975, gia đình ông H có khai phá được 01 phần đất có diện tích hơn 20.000m² có địa chỉ tại ấp H, xã M, huyện D. Đến năm 2001, gia đình được Ủy ban nhân dân huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất thuộc thửa đất số 162, tờ bản đồ số 36, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01130/QĐ-UBND vào ngày 22/5/2001 cho ông Trương C1 đứng tên.

Ngày 22/5/2006, gia đình ông H gồm có: cha là ông Trương C1, sinh năm 1936 (chết ngày 31/3/2023); mẹ là bà Nguyễn Thị T1 cùng 05 người con, gồm: Trương Thị Thanh V, Trương Thị Mai H3, Trương Thị Mai H2, Trương Thanh X và Trương Thanh H cùng lập văn bản phân chia tài sản cho con, theo đó gia đình cùng thống nhất để lại cho ông Trương Thanh H phần đất có diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 21.591m² thuộc thửa đất số 162, tờ bản đồ số 36 có địa chỉ tại ấp H, xã M, huyện D và bao gồm luôn phần đất hiện nay có tranh chấp với bà L. Từ văn bản thỏa thuận trên, ông H cùng vợ tên Ngô Thị Mỹ C có ký nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ cha mẹ là ông Trương C1 và bà Nguyễn Thị T1 thửa đất 162, tờ bản đồ số 36 và được UBND xã M, huyện D chứng nhận ngày 15/6/2006. Đến ngày 03/7/2006, ông H và bà C được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00880/QĐ-UB đối với thửa đất số 162 có diện tích ghi tại giấy chứng nhận là 20.891m². Từ trước năm 2006, ranh đất giữa gia đình ông C1 với gia đình bà L được xác định bởi các cây rừng, không có ranh cụ thể nhưng không có tranh chấp với nhau. Từ năm 2006 đến năm 2020, ông H và bà C trồng cây cao su trên đất và sử dụng ổn định. Ranh đất thửa 162 của ông H, bà C với thửa đất 277 của gia đình ông T3, bà L được xác định bởi cây rừng tự mọc để xác định ranh đất, sau này thì có thêm một số trụ bê tông, cả hai gia đình đều trồng cây cao su trên đất, quy cách trồng cây khác nhau nên dễ dàng nhận biết được phần đất của hai gia đình sử dụng là hai phần riêng biệt. Đối với diện tích đất chênh lệch 700m² (giữa 21.591m² và 20.891m²) thì trên thực tế không có phần đất này, nguyên nhân có sự chênh lệch thì ông H không rõ. Năm 2022, ông H và bà C có nhu cầu chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên thửa đất số 162, tờ bản đồ số 36 có biến động tách một phần thành các thửa 870, 871, 872, 873, 874 tờ bản đồ số 36, các thửa đất này có vị trí khác với phần đất hiện nay giữa bà L với ông H có tranh chấp với nhau. Diện tích còn lại trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa 162 sau khi biến động là 15.475,2m² thuộc thửa đất số 875 tờ bản đồ số 36.

Gia đình ông T3 và bà L đều biết việc ông H và bà C trồng cây cao su trên đất tranh chấp từ năm 2006 và không phản đối. Trước năm 2006, gia đình ông Trương C1 và bà T1 cũng là người sử dụng đất, canh tác trên đất nhưng gia đình ông T3 và bà L cũng không có ý kiến phản đối. Chỉ khi đến năm 2020, bà L tiến hành đo đạc lại đất để làm thủ tục thừa kế sau khi ông T3 chết thì bà L mới tranh chấp với vợ chồng ông H và bà C.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông H trình bày: Năm 2020, bà L có tiến hành đo đạc đất để làm thủ tục chia thừa kế của ông T3, khi cán bộ đo đạc tên T5 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D tiến hành đo thửa đất 182, 277 của bà L thì giữa bà L với ông H có xác định ranh đất theo hiện trạng các bên sử dụng hiện nay và phần đất bà L chỉ cho anh T5 đo không bao gồm phần đất 2.340,6m² đang tranh chấp. Bà L, ông H và các chủ đất liên ranh với đất của bà L cùng thống nhất ký tên vào Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất do cán bộ cán bộ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D cung cấp. Sau này, khi bà L thấy có sự chênh lệch diện tích giữa kết quả đo đạc theo hiện trạng thực tế với diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất 277 thì bà L mới phát sinh tranh chấp với ông H và bà C.

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà L thì ông H không đồng ý. Ông H khởi kiện phản tố, yêu cầu công nhận phần đất có tổng diện tích là 2.340,6m² thuộc một phần của thửa đất số 277 tờ bản đồ số 36 có địa chỉ tại xã M, huyện D của ông Trương Thanh H và vợ là bà Ngô Thị Mỹ C. Đối với tài sản trên đất gồm có 02 cây lồng mức tự mọc và 115 cây cao su được ông H và bà C trồng năm 2006, các tài sản này là của ông H và bà C, ông H không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông H không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với phần đất có diện tích 105,6m² thuộc một phần thửa đất số 278 tờ bản đồ số 36 có địa chỉ tại xã M, huyện D được xác định tại Mảnh trích lục địa chính có đo đạc, chỉnh lý số 160-2023 ngày 11/01/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D.

Ông H đồng ý với kết quả đo đạc tại Mảnh trích lục địa chính có đo đạc, chỉnh lý số 160-2023 ngày 11/01/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D và kết quả định giá tài sản tranh chấp tại Biên bản định giá ngày 12/7/2023 của Hội đồng định giá.

Quá trình tố tụng giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị Mỹ C trình bày:

Bà C có mối quan hệ là vợ của ông H. Bà C không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà L và đồng ý, thống nhất với với yêu cầu khởi kiện phản tố, ý kiến trình bày của chồng là bị đơn ông H. Ngoài ra bà C không có ý kiến gì khác.

Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, tại Bản tự khai ngày 16/12/2022 và Đơn yêu cầu vắng mặt ngày 16/12/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng An H1 trình bày:

Ông H1 là con trai của bà Phạm Thị L. Đối với nội dung vụ án, ông H1 thống nhất với yêu cầu khởi kiện, lời trình bày của bà Phạm Thị L. Trong quá trình tố tụng, nguyên đơn có thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu khởi kiện bổ sung, bị đơn có yêu cầu phản tố, thay đổi bổ sung yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, thay đổi, bổ sung yêu cầu độc lập thì ông H1 vẫn giữ nguyên ý kiến là thống nhất với yêu cầu khởi kiện, ý kiến trình bày của bà Phạm Thị L.

Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, tại Bản tự khai ngày 24/12/2022 và Đơn yêu cầu vắng mặt ngày 24/12/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Minh N trình bày:

Bà N1 là con gái của bà Phạm Thị L. Đối với nội dung vụ án, bà N1 thống nhất với yêu cầu khởi kiện, lời trình bày của bà Phạm Thị L. Trong quá trình tố tụng, nguyên đơn có thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu khởi kiện bổ sung, bị đơn có yêu cầu phản tố, thay đổi bổ sung yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, thay đổi, bổ sung yêu cầu độc lập thì bà N1 vẫn giữ nguyên ý kiến là thống nhất với yêu cầu khởi kiện, ý kiến trình bày của bà Phạm Thị L.

Quá trình tố tụng giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trương C1 là bà Nguyễn Thị T1, bà Trương Thị Mai H2 và bà Trương Thị Thanh V trình bày:

Bà T1 và ông Trương C1, sinh năm 1936 có mối quan hệ là vợ chồng (ông C1 chết ngày 31/3/2023). Bà T1 và ông C1 có 05 người con, cụ thể như sau: Trương Thị Thanh V, Trương Thị Mai H3, Trương Thị Mai H2, Trương Thanh X và Trương Thanh H.

Thửa đất số 162, tờ bản đồ số 36 có địa chỉ tại ấp H, xã M, huyện D có nguồn gốc từ việc bà T1 và chồng là ông Trương C1 khai phá từ sau khi giải phóng năm 1975 mà có, sau này gia đình có đăng ký kê khai và được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể là năm nào thì bà T1 không nhớ. Đến năm 2006, gia đình có văn bản thỏa thuận chia tài sản cho các con, theo đó chia cho con Trương Thanh H phần đất có diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 21.591m² thuộc thửa đất số 162 có địa chỉ tại ấp H, xã M, huyện D. Tại văn bản phân chia tài sản cho con ngày 22/5/2006, các thành viên trong hộ gia đình đã thống nhất cho ông H thửa đất 162 có diện tích 21.591m², trong đó bao gồm cả diện tích đất hiện nay bà L có tranh chấp với ông H và bà C . Khi thực hiện ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng ghi ngày 22/5/2006, được UBND xã M xác nhận ngày 15/6/2006 thì lại thể hiện phần đất mà ông C1 và bà T1 chuyển nhượng cho ông H và bà C là thửa đất 162 chỉ có diện tích 20.891m², sự sai lệch về diện tích thì không được rõ. Hiện nay, anh H và bà C vẫn đang quản lý, sử dụng toàn bộ thửa đất 162 trên và bao gồm luôn phần đất mà hiện nay bà L có yêu cầu khởi kiện tranh chấp với ông H.

Khi bà T1 và ông C1 thực hiện cho đất các con, thực hiện ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của thửa đất 162 nêu trên cho anh H và bà C thì không đo lại thửa đất, gia đình cho đất trên thực tế sử dụng, diện tích đất thì căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp trước đó. Từ trước khi khai phá đất cho đến năm 2006, bà T1 và ông C1 sử dụng đất thì không tranh chấp với ai, bà L và ông T3 cũng không tranh chấp. Từ năm 2006, anh H và bà C trồng cây cao su trên đất, sau này đến năm 2020 thì bà L tranh chấp với ông H như hiện nay. Bà T1, bà H2 và bà V không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L, bà L khởi kiện là không có căn cứ do bà L và gia đình bà L không phải là người sử dụng phần đất tranh chấp. Bà T1, bà H2 và bà V đồng ý với yêu cầu khởi kiện phản tố của ông H.

- Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông Trương C1 là bà bà Trương Thị Mai H3 và ông Trương Thanh X trình bày:

Thửa đất số 162, tờ bản đồ số 36 có địa chỉ tại ấp H, xã M, huyện D có nguồn gốc từ việc gia đình ông Trương C1 khai phá từ sau khi giải phóng năm 1975 mà có, sau này gia đình có đăng ký kê khai và được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại văn bản phân chia tài sản cho con ngày 22/5/2006, các thành viên trong hộ gia đình đã cho ông H thửa đất 162 có diện tích 21.591m². Khi thực hiện ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng ghi ngày 22/5/2006, được UBND xã M xác nhận ngày 15/6/2006 thì lại thể hiện phần đất mà ông C1 và bà T1 chuyển nhượng cho ông H và bà C là thửa đất 162 chỉ có diện tích 20.891m², sự sai lệch về diện tích thì không được rõ. Thực tế thì gia đình có cho vợ chồng anh H và bà C toàn bộ thửa đất số 162, cho dưới hình thức hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Khi cho đất thì không đo lại thửa đất, gia đình cho đất trên thực tế sử dụng, diện tích đất thì căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp trước đó. Hiện nay, anh H và bà C vẫn đang quản lý, sử dụng toàn bộ thửa đất 162 trên và bao gồm luôn phần đất mà hiện nay bà L có yêu cầu khởi kiện tranh chấp với ông H.

Hiện nay, giữa bà L với ông H và bà C có tranh chấp với nhau về diện tích đất 2.340,6m² thuộc một phần của thửa đất số 277 tờ bản đồ số 36 có địa chỉ tại xã M, huyện D thì bà H3, ông X không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L về việc bà L yêu cầu ông H và bà C trả lại đất, bà L khởi kiện là không có căn cứ do bà L và gia đình bà L không phải là người sử dụng phần đất. Bà H3, ông X đồng ý với yêu cầu khởi kiện phản tố của ông H là công nhận diện tích đất 2.340,6m² tranh chấp cho ông H và bà C.

- Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, tại Biên bản lấy lời khai ngày 08/11/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T trình bày:

Bà T là người sinh sống tại ấp H, xã M, huyện D từ năm 1991 đến nay. Thửa đất số 278, tờ bản đồ số 36 có địa chỉ tại ấp H, xã M, huyện D được Nhà nước cấp quyền sử dụng đất cho bà T, đất có nguồn gốc do bà T khai phá mà có và sử dụng từ năm 1991 đến nay. Ranh giới thửa đất 278 với thửa đất của gia đình ông H và gia đình bà L được xác định rõ ràng, đúng như hiện trạng hiện nay các bên đang sử dụng và không có tranh chấp gì với nhau. Đối với diện tích đất 105,6m² hiện đang do ông H quản lý thì bà T không có ý kiến gì. Bà T không có yêu cầu hay tranh chấp gì với các bên đương sự trong vụ án, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Tại Công văn số 809/PTNMT-QLDĐ ngày 19/12/2023 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện D và Công văn số 2316/UBND-BTCD ngày 26/10/2021 của UBND huyện D, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện D trình bày:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00880/QĐ-UB ngày 03/7/2006 do UBND huyện D cấp cho ông Trương Thanh H và bà Ngô Thị Mỹ C được cấp theo trình tự thủ tục quy định tại Điều 152 của Nghị định số 181/2004/QĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2003. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có đo đạc thực tế bằng phương pháp thủ công, hồ sơ cấp giấy chứng nhận không thể hiện việc ký giáp ranh. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Trương Thanh H và bà Ngô Thị Mỹ C.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số 01130QSDĐ/QĐ-UB ngày 22/5/2001 do UBND huyện D cấp cho hộ (ông, bà) Truơng Cây đối với thửa đất số 162, tờ bản đồ số 6 tọa lạc tại xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương được cấp theo trình tự thủ tục quy định tại Thông tư số 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của T6 về hướng dẫn đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giấy chứng nhận được cấp theo bản đồ địa chính chính quy lập năm 1999, không đo đạc thực tế. Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thể hiện việc ký liên ranh. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số 01130QSDĐ/QĐ-UB ngày 22/5/2001 cấp cho hộ (ông, bà) Trương Cây.

Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00592QSDĐ/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 18/12/2000 cho hộ ông (bà) Đặng Đình T3 được cấp theo trình tự, thủ tục quy định tại Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/03/1998 của T6 về hướng dẫn đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất thuộc thửa đất số 277, tờ bản đồ số 36 tọa lạc tại ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương. Khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hình thể thửa đất được cấp theo bản đồ địa chính chính quy lập bằng không ảnh, không đo đạc thực tế, do đó không thể hiện việc ký liên ranh.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số 00592QSDĐ/QĐ-UB ngày 18/12/2000 do UBND huyện D cấp cho hộ (ông, bà) Đặng Đình T3 thể hiện thửa đất 182, 277 tờ bản đồ số 36 có thời hạn sử dụng đến 8/2020. Các đương sự có quyền tiếp tục sử dụng đất nếu được gia hạn sử dụng đất theo quy định.

- Tại Biên bản xác minh ngày ngày 24/8/2023, người làm chứng Lê Đình Đ trình bày: Thời gian từ năm 1981 đến năm 1991, ông Đ là Đội trưởng, sau đó là Trưởng Công an xã M, huyện B nay là huyện D, tỉnh Bình Dương. Thời kỳ này UBND xã M có chủ trương cho cán bộ xã M khai phá đất để canh tác, sinh sống. Ông Đ là người thuê máy ủi để san lấp, ban ủi một phần đất khoảng 01ha tại ấp H, xã M (trước là ấp C), huyện D và trồng cây điều trên đất.

Khoảng năm 1990, thấy cây điều không lớn nổi, không có điều kiện để canh tác nên ông Đ đã bán lại cho ông Đặng Đình T3 là chồng của bà L. Do thời điểm này đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên giữa ông Đ với ông T3 chỉ mua bán bằng miệng với nhau, giá là 01 chỉ vàng, không có giấy tờ thể hiện.

Ông Đ nhớ rõ, khi ban ủi đất vào thời điểm năm 1990 thì phần đất của ông Đ có một phần giáp với đường đá đỏ, nay là đường nhựa, phía sau là đất của ông C1, hai bên đất là ranh thẳng do đất ủi. Để xác định ranh với chủ đất liền kề, ông Đ có để lại 01 bờ gom khoảng 02m và để lại một số cây rừng để làm ranh đất. Sau này, khi bán đất cho ông T3 thì việc ông T3 và các hộ dân kế bên sử dụng đất như thế nào, có khai phá thêm đất hay có tranh chấp với nhau như thế nào thì ông Đ không rõ.

- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 02/8/2023, người làm chứng ông L1 trình bày: Ông L1 được biết, nguồn gốc thửa đất số 162, tờ bản đồ số 36 hiện nay được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H và bà C có nguồn gốc do cha mẹ của ông H là ông C1 và bà T1 khai phá mà có, sau đó cho lại cho ông H. Đối với đất của hộ ông T3 là thửa đất 277, 182 tờ bản đồ số 36 có nguồn gốc từ việc ông L1 là người trực tiếp giới thiệu cho ông T3 mua lại đất của ông Lê Đình Đ. Khoảng năm 1989 (không nhớ chính xác năm), ông Đ là người kêu ông L1 mua lại phần đất tại ấp H, xã M, huyện D. Tuy nhiên, do ông L1 không có nhu cầu mua lại đất nên tôi có giới thiệu lại cho ông T3 để ông T3 mua đất của ông Đ, phần đất này hiện nay bà L là vợ của ông T3 đang quản lý, sử dụng. Nguồn gốc đất là do UBND xã M cấp cán bộ (ông Đ là cán bộ Công an M, huyện D), hình dạng thửa đất là vuông vức, có phần đầu đất là giáp đường đất đỏ (nay là DT 749B), phía đuôi đất giáp với đất của ông tư C1 (ông Trương C1, là cha đẻ của ông Trương Thanh H). Ông L1 biết các phần đất trên ban đầu là đều trồng cây điều, sau này thì phá đi trồng cây cao su. Đất của ông C1 thì sau này có cho ông H, đất của ông T3 thì sau khi ông T3 chết thì bà L sử dụng đất nay.

Đối với phần đất tranh chấp, phần đất này ông L1 thấy gia đình ông C1, sau này là gia đình ông H quản lý, sử dụng. Ông T3 và bà L không hề sử dụng phần đất này. Đối với ranh đất giữa các bên được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến đâu thì ông L1 không rõ.

- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 02/8/2023, người làm chứng ông T2 trình bày: Ông T2 là người có đất giáp ranh với phần đất mà hiện nay bà L và ông H đang có tranh chấp. Ông T2 được biết, nguồn gốc thửa đất số 162, tờ bản đồ số 36 hiện nay được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H và bà C có nguồn gốc do cha mẹ của ông H là ông C1 và bà T1 khai phá mà có, sau đó cho lại cho ông H. Đối với đất của hộ ông T3 là thửa đất 277, 182 tờ bản đồ số 36 có nguồn gốc từ đâu mà có thì ông T2 không biết. Khi ông T2 lớn lên thì thấy hai bên gia đình ông C1, gia đình ông H, gia đình ông T3 và bà L trồng cây điều, sau thì trồng cây cao su cho đến nay.

Phần đất tranh chấp, ông T2 thấy gia đình ông C1, sau này là gia đình ông H quản lý, sử dụng. Ông T3 và bà L không hề sử dụng phần đất này. Ranh đất giữa gia đình ông H và gia đình ông T3 được xác định bởi một số cây rừng tự mọc cho đến nay. Sau khi ông T3 chết, năm 2019 bà L tiến hành đo đạc lại đất thì mới phát sinh tranh chấp với ông H, trước kia ông T3 còn sống thì ông T2 không thấy ai tranh chấp đất gì.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị L đối với ông Trương Thanh H và bà Ngô Thị Mỹ C về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với phần đất có diện tích 2.340,6m² thuộc một phần thửa đất số 277 tờ bản đồ số 36 có địa chỉ tại ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương và yêu cầu khởi kiện về việc di dời tài sản trên đất là 02 cây lồng mức tự mọc và 115 cây cao su được trồng năm 2006.
  2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị L đối với ông Trương Thanh H và bà Ngô Thị Mỹ C về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với phần đất có diện tích 0,4m².
  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện phản tố của ông Trương Thanh H đối với bà Phạm Thị L về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
  4. Công nhận cho ông Trương Thanh H và bà Ngô Thị Mỹ C được quyền quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 2.340,6m² (gồm phần đất có ký hiệu A có diện tích 1.1497,3m² và phần đất có ký hiệu D có diện tích 843,3m²) thuộc một phần thửa đất số 277 tờ bản đồ số 36 có địa chỉ tại ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương. Có sơ đồ bản vẽ kèm theo.

    Phần đất có tứ cận: Phía Đông giáp thửa 277; phía Tây giáp thửa đất 875; phía Nam giáp thửa đất 278, 277; phía Bắc giáp thửa 875.

    Tài sản trên đất có 02 cây lồng mức tự mọc và 115 cây cao su được trồng năm 2006.

  5. Các bên đương sự được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất, cấp đổi, điều chỉnh diện tích đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất so với diện tích đất thực tế hiện nay đang sử dụng theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, trách nhiệm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi tuyên án, nguyên đơn bà Phạm Thị L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, kháng cáo; bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.

Về nội dung: Nguyên đơn bà L kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của mình, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn bà L và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông H là có căn cứ nên đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: kháng cáo của bà Phạm Thị L trong hạn luật định, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung :

Nguyên đơn bà Phạm Thị L xác định diện tích đất 2.340,6m² thuộc thửa 277, tờ bản đồ số 36 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00592 QSDĐ/QĐ-UB ngày 18/12/2000 cấp cho hộ ông Đặng Đình T3 là thuộc quyền sử dụng của bà và những người thừa kế của ông Đặng Đình T3 (đã chết) nên khởi kiện yêu cầu ông Trương Thanh H, bà Ngô Thị Mỹ C phải trả lại cho bà L cùng 02 con là ông Đặng An H1, bà Đặng Thị M diện tích đất này.

Bị đơn ông Trương Thanh H cho rằng từ trước năm 2006, ranh đất giữa gia đình ông và gia đình bà L được xác định bởi các cây rừng, không có ranh cụ thể nên không tranh chấp với nhau. Từ năm 2006 đến năm 2020, ông H, bà C trồng cây cao su trên đất và sử dụng ổn định, quy cách trồng cây khác nhau nên dễ dàng nhận biết được phần đất của 02 gia đình đang sử dụng là 02 phần riêng biệt nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời, có đơn phản tố yêu cầu công nhận diện tích đất 2.340,6m² thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông H.

Chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/01/2023 thể hiện: tài sản trên đất tranh chấp gồm 02 cây lòng mức tự mọc, đường kính thân khoảng 25cm, 115 cây cao su được ông H trồng năm 2006. Hiện trạng sử dụng đất phù hợp với thừa nhận của các đương sự, từ năm 2006 đến nay thì ông H, bà C quản lý, sử dụng diện tích đất này.

Hộ ông Đặng Đình T3 (chồng nguyên đơn bà L) chết năm 2019 đã được Ủy ban nhân dân huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00592QSDĐ/QĐ-UB ngày 18/12/2000 thửa đất số 277, tờ bản đồ số 36 diện tích 9.325m², theo đơn đăng ký ngày 01/01/2000 có nguồn gốc là khai phá năm 1991. Ông Trương Thanh H được Ủy ban nhân dân huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00880/QĐ-UB ngày 03/7/2006 thuộc thửa 162 tờ bản đồ số 36 diện tích 20.891m². Việc cấp giấy chứng nhận cho hộ ông Đặng Đình T3 và ông Trương Thanh H là đúng theo quy định của pháp luật về đất đai.

Xét, nguồn gốc thửa đất 162 ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là được cha là ông Trương C1 và mẹ là bà Nguyễn Thị T1 phân chia ngày 22/5/2006, diện tích đất này ông C1 có đơn đăng ký ngày 01/01/2000 được Ủy ban nhân dân huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 01130QSDĐ/QĐ-UB ngày 22/5/2001 thửa 162, tờ bản đồ số 36, diện tích 21.591m². Sau khi lập biên bản phân chia ngày 22/5/2006 thì ngày 12/6/2006, cán bộ địa chính huyện và địa chính xã tiến hành lập biên bản xác định vị trí, mốc, ranh giới, kích thước, hình dáng thửa đất và xác định diện tích đất thực tế thửa số 162, diện tích 20.891m². Sau khi được phân chia đất, ông H tách thửa chuyển nhượng cho nhiều người, diện tích hiện còn lại là 15.475,2m² thuộc thửa 875. Diện tích đất thửa số 875 theo đo đạc thực tế 15.975,6m², tăng 500,4m² (chưa tính diện tích tranh chấp).

Theo Mảnh trích lục địa chính ngày 11/01/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D thể hiện: diện tích đất 2.340,6m² thuộc một phần thửa đất số 277, tờ bản đồ số 36 được cấp cho hộ ông Đặng Đình T3. Các đương sự đều thống nhất thừa nhận điều này. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Như vậy, có căn cứ xác định diện tích đất này là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của hộ ông Đặng Đình T3 (chồng bà L), ông T3 đã thực hiện kê khai, đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng theo quy định. Ông H lấn chiếm sử dụng từ năm 2006 đến nay. Hộ ông Đặng Đình T3 (hiện nay gồm bà L, ông H1, bà N1) đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất tranh chấp nên được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình theo quy định tại Điều 166 Luật Đất đai năm 2013. Do đó, nguyên đơn bà L khởi kiện yêu cầu ông H phải trả lại quyền sử dụng đất cho bà L và những người thừa kế của ông T3 là có căn cứ.

Việc ông H lấn chiếm đất sử dụng trồng cao su, những người thừa kế ông T3 không biết và không có ý kiến gì nên phải có trách nhiệm thanh toán công sức đóng góp, tôn tạo đất cho ông H từ năm 2006 đến nay gần 20 năm và có trách nhiệm thanh toán giá trị cây trồng trên đất để được quản lý, sử dụng các cây trồng này. Cụ thể: thanh thanh toán công sức đóng góp, tôn tạo đất cho ông H 50% giá trị quyền sử dụng đất theo giá mà Hội đồng định giá tương ứng là: 2,340,6m² x 300.000 đồng/m² : 2 =351.090.000 đồng và giá trị 02 cây lồng mức và 115 cây cao su trồng năm 2006 là 50.869.000 đồng. Tổng cộng là 401.959.000 đồng.

Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận kháng cáo và một phần yêu cầu khởi kiện của bà L.

[3] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

[4] Án phí phúc thẩm: người kháng cáo không phải chịu.

[5] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương là chưa phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị L.
  2. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương như sau:
    1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị L đối với ông Trương Thanh H và bà Ngô Thị Mỹ C về việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 0,4m²
    2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị L đối với ông Trương Thanh H, bà Ngô Thị Mỹ C về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.

      Buộc ông Trương Thanh H, bà Ngô Thị Mỹ C phải trả lại cho bà Phạm Thị L, ông Đặng An H1, bà Đặng Thị Minh N diện tích đất 2.340,6m² (gồm phần đất có ký hiệu A có diện tích 1497,3m² và phần đất có ký hiệu D có diện tích 843,3m²) thuộc thửa đất số 277, tờ bản đồ số 36 tọa lạc tại ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00592 QSDĐ/QĐ-UB ngày 18/12/2000 do UBND huyện D cấp cho hộ ông Đặng Đình T3 (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

      Buộc bà Phạm Thị L, ông Đặng An H1, bà Đặng Thị Minh N thanh toán cho ông Trương Thanh H, bà Ngô Thị Mỹ C giá trị công sức đóng góp, gìn giữ tôn tạo diện tích đất 2.340,6m² thuộc thửa đất số 277, tờ bản đồ số 36 tọa lạc tại ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương số tiền 351.090.000 đồng (ba trăm năm mươi mốt nghìn không trăm chín mươi nghìn đồng) và giá trị các cây trồng trên đất là 50.869.000 đồng (năm mươi triệu tám trăm sáu mươi chín nghìn đồng). Tổng cộng 401.959.000 đồng (bốn trăm lẻ một triệu chín trăm năm mươi chín nghìn đồng).

      Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án

      Sau khi thanh toán số tiền trên, bà Phạm Thị L, ông Đặng An H1, bà Đặng Thị Minh N được quyền sở hữu 02 cây lồng mức và 115 cây cao su trên diện tích 2.340,6m² thuộc thửa đất số 277, tờ bản đồ số 36.

    3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trương Thanh H, bà Ngô Thị Mỹ C về việc công nhận cho ông H, bà C được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 2.340,6m² thuộc thửa đất số 277, tờ bản đồ số 36 tọa lạc tại ấp H, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.
    4. Về án phí sơ thẩm:

      Bà Phạm Thị L được miễn. Hoàn trả cho bà Phạm Thị L số tiền 1.250.000 đồng (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí theo Biên lai số 0045492 ngày 14/12/2020 và số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo Biên lai số 0057927 ngày 17/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng.

      Ông Trương Thanh H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 16.043.000 đồng (mười sáu triệu không trăm bốn mươi ba nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0002754 ngày 10/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, hoàn trả cho ông Trương Thanh H số tiền 15.743.000 đồng (mười lăm triệu bảy trăm bốn mươi ba nghìn đồng) còn thừa.

    5. Về chi phí tố tụng: Số tiền 4.956.386 đồng (bốn triệu chín trăm năm mươi sáu nghìn ba trăm tám mươi sau đồng), ông Trương Thanh H, bà Phạm Thị L mỗi người phải chịu 2.478.193 đồng (hai triệu bốn trăm bảy mươi tám nghìn một trăm chín mươi ba đồng). Do bà Phạm Thị L đã tạm ứng nên ông Trương Thanh H có trách nhiệm thanh toán lại cho bà Phạm Thị L số tiền 2.478.193 đồng (hai triệu bốn trăm bảy mươi tám nghìn một trăm chín mươi ba đồng).
  3. Án phí phúc thẩm: Bà Phạm Thị L không phải chịu.
  4. Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Dầu Tiếng;
  • - TAND huyện Dầu Tiếng;
  • - Các đương sự;
  • - Tổ hành chính tư pháp;
  • - Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC

THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Huỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 166/2025/DS-PT ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 166/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger