TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 166/2024/HS-ST
Ngày 11 tháng 12 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Văn Khanh
- Ông Nguyễn Văn Xuân
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Chu Thị Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên, xét xử công khai, lưu động vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 165/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 174/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Nông Văn T; Sinh năm: 1998;
Nơi sinh và nơi cư trú: Xóm A B, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nông Văn X (đã chết)và bà Mã Thị L; Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Chưa có;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/09/2024, đến ngày 22/09/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V.
Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1987; Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Người làm chứng:
Cháu Mai Đức A, sinh năm 2009;
Người giám hộ của cháu Mai Đức A: Chị Nguyễn Thị L1 ( là mẹ đẻ).
Địa chỉ: Thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Anh Cụt Văn Q, sinh năm 2002;
Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Anh Lý Văn T1, sinh năm 1992;
Địa chỉ: Xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Anh Vi Văn H, sinh năm 2002;
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nông Văn T, sinh năm 1998 ở xóm A B, thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định và đang thuê phòng trọ tại thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Do không có tiền tiêu sài cá nhân nên khoảng 23 giờ ngày 18/9/2024 sau khi ăn uống xong, T được bạn chở về phòng trọ của anh Vi Văn H, sinh năm 2002 ở thôn T, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An (là bạn của T đang thuê phòng trọ ở thôn N, thị trấn N, huyện V). Lúc này, T không đi vào phòng trọ mà nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản nên T đã đi bộ quanh khu vực thôn N, thị trấn N mục đích xem có ai sơ hở về tài sản thì trộm cắp. Khi T đi qua nhà của chị Nguyễn Thị L1 sinh năm 1987 ở thôn N, thị trấn N, T phát hiện thấy cửa cổng mở, trước cửa nhà có dựng 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xám đen (không gắn biển số), T quan sát thấy không có ai nên T đi bộ vào trong sân, thấy chìa khoá vẫn cắm ở ổ khóa của xe mô tô, T liền dắt chiếc xe trên lùi ra phía cổng. Khi T dắt xe đi được khoảng 5m thì bị chị L1 và cháu Mai Đức A (là con của chị L1) phát hiện hô hoán bắt giữ được T và trình báo Công an thị trấn N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và thu giữ vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xám đen (không gắn biển số).
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã khám xét khẩn cấp tại phòng trọ của T ở thôn N, thị trấn N, huyện V nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì có liên quan.
Ngày 19/9/2024, Hội đồng định giá tài sản huyện V đã tiến hành định giá và kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xám đen (không có biển số) tại thời điểm ngày 18/9/2024 có trị giá 18.300.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định: chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xám đen (không có biển số) là xe của chị Nguyễn Thị L1, chị L1 chưa đăng ký biển số xe nên ngày 21/9/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị L1. Chị L1 đã nhận lại tài sản và tự nguyện không yêu cầu bồi thường gì.
Bản cáo trạng số 167/CT-VKS, ngày 11/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo mong Hội đồng xét xử xử nhẹ cho bị cáo vì bị cáo kém hiểu biết, bị cáo là trụ cột trong gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nông Văn T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, thời gian tù tính từ ngày 19/09/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Các biện pháp tư pháp: Về vật chứng:
Ngày 21/9/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả lại cho chị Nguyễn Thị L1 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xám đen ( không có biển số ), chị L1 đã nhận lại xe nên không đặt ra xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị L1 đã nhận lại 01 chiếc xe và tự nguyện không yêu cầu bồi thường gì, nên không đặt ra để xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa: Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm đều đề nghị tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người bị hại, người làm chứng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sự vắng mặt của người bị hại và người làm chứng tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử khách quan đối với bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến; biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận:
Do không có tiền tiêu sài cá nhân nên khoảng 23 giờ 45 phút ngày 18/9/2024 tại nhà của chị Nguyễn Thị L1 ở thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Nông Văn T đang thực hiện hành vi lén lút bí mật chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xám đen (không gắn biển số) có trị giá 18.300.000 đồng của chị L1 thì bị phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ pháp luật.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang bất bình cho quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo buộc phải nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do động cơ tư lợi muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới đủ tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đáp ứng được yêu cầu phòng chống tội phạm nói chung.
[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
- - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng. Do vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Các biện pháp tư pháp: Về xử lý vật chứng:
Ngày 21/9/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả lại cho chị Nguyễn Thị L1 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xám đen ( không có biển số ). Việc xử lý vật chứng của cơ quan điều tra phù hợp với quy định của pháp luật, không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị L1 đã nhận lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xám đen ( không có biển số ) và tự nguyện không yêu cầu T phải bồi thường gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[5] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản.
Xử phạt: Bị cáo Nông Văn T 01 ( một ) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/09/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
Về án phí: Buộc bị cáo Nông Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Vân Anh |
Bản án số 166/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 166/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nông Văn T phạm tội trộm cắp tài sản
