Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 166/2024/HS-ST

Ngày 06-12-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Chum.

Thẩm phán: Ông Nguyễn Huỳnh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quốc Dũng;

Bà Đoàn Kim Bình.

Bà Nguyễn Thị Nghĩa Hương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hồng Thái – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Tấn Lập - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 169/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 183/2024/QĐXXST-HS ngày ngày 07 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Thành T, sinh năm 1976 tại tỉnh Bình Dương; CMND số: [...]; nơi cư trú: khu phố B, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị L (đã chết); bị cáo có vợ là Võ Thị Nguyên T1 (đã ly hôn) và 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ 23/10/2023 cho đến nay, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Thành T:

  1. Bà Ngô Thị Thanh T2 là Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
  2. Bà Trần Thị Anh T3 là Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bình Dương, có mặt.

- Bị hại: Bà Nguyễn Ngọc Minh V, sinh năm 1964; nơi cư trú: số A, đường Đ, tổ D, khu B, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nơi ở hiện nay: số A, khu phố I, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Phạm Thị Thu G là Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bình Dương, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1977; nơi cư trú: số F đường A, khu E, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1977, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 6/2021, Trần Thành T nhiều lần vay tiền của bà Nguyễn Ngọc Minh V với tổng số tiền gốc là 640.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất là 20.000.000 đồng/01 tháng. Lúc này, để làm tin cho khoản vay của mình thì T cầm cố cho bà V 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H55956, thửa đất số 377, tờ bản đồ số 26, diện tích đất 204,4 m², được Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương cấp ngày 12/11/2009 cho Trần Thành T, đất có địa chỉ ở phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Sau đó khoảng 10 ngày thì T mượn lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên để làm thủ tục vay ngân hàng lấy tiền trả cho bà V thì bà V đồng ý. Ngày 12/6/2021, T thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên để vay của Ngân hàng N1 chi nhánh tỉnh Bình Dương (theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 0106/2021/702-TD-BĐ ngày 12/6/2021) số tiền 1.500.000.000 đồng, số tiền này T không trả nợ cho bà V mà T sử dụng để trả nợ cho người khác và tiêu xài hết.

Ngày 30/11/2021, T tiếp tục gặp bà V để vay thêm tiền, T nói sẽ bán phần đất mà T đang thế chấp tại ngân hàng để trả nợ bà V thì bà V đồng ý. Lúc này, bà V yêu cầu T viết giấy nhận nợ với tổng số tiền T vay là 760.000.000 đồng, trong đó tiền gốc là 640.000.000 đồng, lãi 06 tháng mà T chưa trả là 120.000.000 đồng. Chiều cùng ngày 30/11/2021, bà V cho T vay thêm 50.000.000 đồng, T có ký nhận nợ với bà V số tiền này. Như vậy, tính đến ngày 30/11/2021, T vay của bà V số tiền gốc là 690.000.000 đồng, tiền lãi là 120.000.000 đồng, cộng dồn cả gốc và lãi là 810.000.000 đồng.

Đến ngày 23/12/2021, T tất toán khoản vay tại Ngân hàng N1 và lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn Thanh P với số tiền chuyển nhượng là 4.700.000.000 đồng. Ngày 10/01/2022, T tiếp tục gặp bà V vay thêm số tiền 60.000.000 đồng với lý do là cần tiền để làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, xong T sẽ trả hết tiền cho bà V thì bà V đồng ý. Như vậy, tính đến ngày 10/01/2022, T đã vay tiền gốc của bà V số tiền 750.000.000 đồng, tiền lãi chưa trả là 120.000.000 đồng.

Sau khi nhận tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ anh P, T đã sử dụng vào mục đích cá nhân mà không trả nợ cho bà V như cam kết. Ngày 19/02/2022, sau khi biết T đã bán nhà và đất mà không trả tiền nên bà V cùng anh Nguyễn Văn T4 là em rể của bà V đến gặp T tại nhà số I, tổ C, khu phố B, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương để đòi tiền (nhà T đã bán cho anh P). Tại đây, T viết bản xác nhận đã mượn tiền của bà V rồi gian dối để lấy lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bán cho anh P, T đã sử dụng toàn bộ số tiền bán đất để trả nợ và tiêu xài cá nhân mà không trả cho bà V, hiện tại T không còn tài sản nào để bảo đảm trả nợ cho bà V, sau đó T bỏ trốn khỏi nơi cư trú.

Ngày 04/11/2022, bà V đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương trình báo sự việc, ngày 23/10/2023, Trần Thành T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Bản Kết luận giám định số 78/KL-KTHS(TL) ngày 03/3/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Chữ ký, chữ viết họ tên và 01 (một) dấu vân tay được giám định viên đánh số 2 mang tên “Trần Thành T” trên Giấy mượn tiền đề ngày 30/11/2021 và Bản xác nhận đề ngày 19/02/2022 so với chữ ký, chữ viết và 01 (một) dấu vân tay của Trần Thành T trên các tài liệu mẫu do cùng một người ký, viết, và in ra.

Cáo trạng số 125/CT-VKS-P1 ngày 19 tháng 6 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Thành T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội trong đó có nội dung: giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng số 125/CT-VKS-P1 ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về phần tội danh đối với bị cáo Trần Thành T. Lời khai của bị cáo và bị hại trong quá trình điều tra cùng với các biên bản hỏi cung, biên bản ghi lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của người làm chứng, người liên quan, kết luận giám định, kết quả xác minh cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án... đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thành T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại; sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm khoản 4 Điều 175; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thành T mức án từ 08 năm tù đến 10 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày nội dung bào chữa: giữ nguyên quan điểm bào chữa cho bị cáo theo như phiên tòa ngày 23/8/2024 và nhấn mạnh các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo để Hội đồng xét xử xem xét là bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã khắc phục một phần thiệt hại; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú. Kính mong Hội đồng xem xét xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt để bị cáo có cơ hội trở về với gia đình và khắc phục thiệt hại cho bị hại.

Bị cáo thống nhất lời bào chữa và không tranh luận gì thêm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày: về tội danh Viện kiểm sát truy tố không có ý kiến; về vấn đề dân sự của vụ án kính mong Hội đồng xét xử xem xét để đảm bảo việc thi hành án cho bị hại đó là phần đất của bị cáo sau khi bán nhà cho ông P bị cáo đưa cho bà T1 là vợ cũ của bị cáo 2.000.000.000 đồng trong thời gian đó bị cáo đang phải trả tiền cho bà V vì vậy đây là hành vi nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ khắc phục bồi thường thiệt hại cho bị hại và giao dịch giữa bị cáo và bà T1 là trường hợp xác lập giao dịch giả tạo. Tại phiên tòa bị cáo có nguyện vọng muốn lấy lại số tiền 2.000.000.000 đồng của bà T1 để khắc phục cho bị hại vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử tuyên vô hiệu giao dịch giữa bị cáo và bà T1 để thu hồi lại số tiền này. Đối với mảnh đất tại khu đất tái định cư Đ là tài sản của bị cáo mua khi được đền bù tại công ty T5 nên đề nghị Hội đồng xét xử kê biên mảnh đất này để đảm bảo thi hành án.

Bị hại không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo cũng nhận thức được hành vi sai trái của mình và đã hối hận, bị cáo xin lỗi bị hại, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: các hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thành T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với bị cáo. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng sự quen biết, Trần Thành T đã mượn của bà Nguyễn Ngọc Minh V số tiền gốc là 750.000.000 đồng (lãi thỏa thuận nhưng T chưa trả là 120.000.000 đồng), bị cáo T cầm cố cho bà V 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H55956, thửa đất số 377, tờ bản đồ số 26, diện tích đất 204,4 m² do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương cấp ngày 12/11/2009. Sau đó, T có hành vi gian dối là mượn lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp vay ngân hàng lấy tiền trả cho bà V; sau đó là chuyển nhượng cho người khác để lấy tiền trả nợ cho bà V nhưng sau khi được bà V tin tưởng giao lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì T đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thanh P với số tiền 4.700.000.000 đồng nhưng T không trả nợ cho bà V như cam kết mà T đã sử dụng toàn bộ số tiền trên để trả nợ cho người khác và tiêu xài cá nhân, sau đó T bỏ trốn đến ngày 23/10/2023, T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương đầu thú. Hành vi của bị cáo Trần Thành T thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, quy định tại khoản 4 Điều 175 của Bộ luật Hình sự, Cáo trạng số 125/CT-VKS-P1 ngày 19 tháng 6 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Thành T theo tội danh, khung hình phạt và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Về nhận thức, bị cáo hoàn toàn ý thức được hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi cá nhân nên bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt luôn tài sản của bị hại sau khi được bị hại tin tưởng giao tài sản cho bị cáo. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện nhằm có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường, khắc phục một phần thiệt hại; sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị về áp dụng tội danh, khung hình phạt và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo đề nghị là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận

[8] Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đề nghị thu hồi số tiền 2.000.000.000 đồng bị cáo đưa cho bà T1 và kê biên tài sản của bị cáo là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại bà Nguyễn Ngọc Minh V yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 750.000.000 đồng đã chiếm đoạt, gia đình của bị cáo đã nộp 155.000.000 đồng tiền khắc phục hậu quả, dó đó bị cáo có trách nhiệm trả lại số tiền còn lại cho bị hại.

[10] Về xử lý vật chứng: không.

[11] Về án phí hình sự và dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Trần Thành T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

2. Về áp dụng điều luật và hình phạt: Áp dụng khoản 4 Điều 175; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Thành T 08 (tám) năm tù. thời hạn tù tính từ ngày từ ngày 23/10/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584; 585; 586 và 589 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Trần Thành T có trách nhiệm trả lại cho bà Nguyễn Ngọc Minh V 750.000.000 đồng.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 155.000.000 đồng do bà Trương Thị Hồng H đã nộp theo các Biên lai thu tiền số 0000171 ngày 07 tháng 8 năm 2024 và Biên lai thu tiền số 0000308 ngày 29 tháng 10 năm 2024 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Bình Dương để đảm bảo thi hành án.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

4.1 Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Trần Thành T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

4.2 Án phí dân sự sơ thẩm: bị cáo Trần Thành T phải nộp 34.000.000 (ba mươi bốn triệu) đồng.

Bị cáo và bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương;
  • - Trại Tạm giam - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án (3);
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Lưu VP (3), hồ sơ vụ án, PHT, 22.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Chum

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 166/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 166/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thành T phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger