Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VĨNH YÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số:166/2024/HS-ST

Ngày 30 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Minh Ái.
  • Các Hội thẩm Nhân dân : Ông Lê Văn Dũng và ông Phùng Đình Bàn
  • Thư ký phiên toà: Bà Kiều Thị Hằng - Thư ký Toà án Nhân dân thành phố Vĩnh Yên.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên toà:

Bà Vũ Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 142/2024/HS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 154/2024/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu V, sinh ngày 25/9/1999, tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Vương Thị T; vợ: Nguyễn Hồng N; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2019 nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không:

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 28/5/2024, Nguyễn Hữu V nảy sinh ý định đi mua ma túy đá và ma túy ngựa để sử dụng cho nhu cầu nghiện của bản thân. Sau đó, V đi nhờ xe máy của một người nam giới đi đường (không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ và BKS xe) đến thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua ma túy. Khi đi đến khu vực cây xăng L ở đường M, phường L, thành phố V thì V xuống xe. Tại đây, V gặp và mua được của 01 người nam giới đang đứng trên vỉa hè gần cây xăng L (V không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ) 01 túi nilon bên trong có ma túy đá và 02 viên ma túy ngựa với giá 300.000đ. Sau khi mua được ma túy, V cất giấu gói ma túy vào túi áo bên phải phía trước của chiếc áo đang mặc rồi đi tìm nơi vắng người để sử dụng. V đi nhờ xe máy của một người nam giới đi đường (không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ và BKS xe) đến khu vực đường L, TDP Đ, phường Đ, thành phố V thì xuống xe đi bộ tìm nơi sử dụng ma túy. Khi V vừa đi bộ được một đoạn thì bị Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh V hành chính, phát hiện thu giữ tại túi áo bên phải phía trước chiếc áo V đang mặc 01 túi nilon bên trong có các hạt tinh thể màu trắng và 02 viên nén hình trụ tròn màu đỏ (V khai nhận là ma túy vừa mua được để sử dụng) được niêm phong vào một phong bì thư theo đúng quy định của pháp luật, ký hiệu A1. Tạm giữ của V 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone. Sau đó, Tổ công tác đưa V cùng vật chứng về trụ sở Công an phường Đ, thành phố V để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Cùng ngày 28/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Hữu V ở thôn L, xã H, huyện T. Qua khám xét không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Tại Kết luận giám định số 1554/KLGĐ ngày 01/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận:

  • “1. Tinh thể dạng đá màu trắng có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3688g (Không phảy ba sáu tám tám gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine.
  • 2. 02 (hai) viên nén màu đỏ có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,2040g (Không phảy hai không bốn không gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine.

Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu tại Phòng K - Công an tỉnh V, gồm: A1 = 0,3300 gam mẫu tinh thể dạng đá + 0,1591 gam mẫu viên nén và toàn bộ bao gói được niêm phong kín trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ 1457”.

Cơ quan điều tra Công an thành phố V đã thông báo kết luận giám định cho bị cáo Nguyễn Hữu V biết nhưng V không có ý kiến thắc mắc gì.

Tại Cáo trạng số: 156/CT-VKSVY - VP ngày 06/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố Nguyễn Hữu V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa Nguyễn Hữu V khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Người làm chứng vắng mặt nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Thế V1 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 28/5/2024).

Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy 0,3300 gam mẫu tinh thể dạng đá, 0,1591 gam mẫu viên nén và toàn bộ bao gói được niêm phong kín trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ 1457/2024” hoàn lại sau giám định. Trả lại Nguyễn Hữu V 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội nêu trên của bị cáo Nguyễn Hữu V tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 28/5/2024, tại khu vực đường L, TDP Đ, phường Đ, thành phố V, Nguyễn Hữu V có hành vi tàng trữ trái phép 01 túi nilon bên trong có các hạt tinh thể màu trắng và 02 viên nén hình trụ tròn màu đỏ qua giám định đều là ma túy loại Methamphetamine có tổng khối lượng là 0,5728 gam để sử dụng thì bị Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh V phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng có liên quan.

Xét tình chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là thanh niên tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe, bị cáo nhận thức được việc tang trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì thiếu sự tu dưỡng, ham chơi đua đòi để thỏa mãn nhu cầu của bản thân vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, vì vậy cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc cách ly ra khởi đời sống xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt thấy rằng trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu bị đưa ra xét xử, lượng ma túy tàng trữ không nhiều (0,5728 gam), tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa luôn “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, có ông nội là ông Nguyễn Văn D tham gia kháng chiến chống Pháp được Chủ tịch UBND tỉnh V tặng bằng khen và được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, chỉ cần phạt bị cáo mức án trên mức khởi điểm của khung hình phạt như đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản và nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Đối với người nam giới đã bán ma túy cho Nguyễn Hữu V ở khu vực gần cây xăng L trên đường M, phường L, thành phố V khoảng 40 tuổi, dáng người gầy, cao khoảng 1m70, tóc cắt ngắn, mặc quần dài màu đen, áo cộc màu xanh. Cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã tiến hành xác minh tại Công an phường L, thành phố V về người nam giới có đặc điểm nhận dạng như khai báo của V nhưng chưa xác định được. Ngoài lời khai của V thì cũng không có tài liệu nào xác định nhân thân, lai lịch người nam giới đã bán ma túy cho V. Do vậy, Cơ quan điều tra Công an thành phố V tiếp tục xác minh khi nào làm rõ xử lý sau là có căn cứ.

Đối với người nam giới điều khiển xe máy cho V đi nhờ từ thôn L, xã H, huyện T đến đường M, phường L, thành phố V để V mua ma túy và người nam giới điều khiển xe máy cho V đi nhờ từ đường M, phường L đến đường L, TDP Đ, phường Đ, thành phố V để V tìm nơi sử dụng ma túy thấy rằng: Khi trên đường đi nhờ V không nói chuyện với những người này về mục đích V đi đâu, làm gì, bản thân V cũng không biết họ tên, nghề nghiệp, địa chỉ những người này ở đâu. Do đó, hai người nam giới này không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của V nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố V không đề cập xử lý là có căn cứ.

[6] Về vật chứng:

Đối với số tiền 300.000đ, Nguyễn Hữu V sử dụng để mua ma túy ngày 28/5/2024 do V lao động hợp pháp mà có, Cơ quan điều tra không thu giữ được nên không đề cập xử lý.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone là tài sản hợp pháp của Nguyễn Hữu V không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 0,3300 gam mẫu tinh thể dạng đá, 0,1591 gam mẫu viên nén và toàn bộ bao gói được niêm phong kín trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ 1457/2024” hoàn lại sau giám định, cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt Nguyễn Hữu V 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 28/5/2024).

Căn cứ khoản 1,2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy 0,3300 gam mẫu tinh thể dạng đá; 0,1591 gam mẫu viên nén và toàn bộ bao gói được niêm phong kín trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ 1457/2024” hoàn lại sau giám định.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Đặc điểm tang vật như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/9/2024).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Hữu V phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Viện kiểm sát thành phố Vĩnh Yên;
  • - Công an thành phố Vĩnh Yên;
  • - Chi cục thi hành án Vĩnh Yên;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Đỗ Minh Ái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 166/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 166/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu V phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger