Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 166/2024/HS-ST

Ngày: 20-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Hồng Thuý - Nguyên Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng

Ông Nguyễn Thanh Hải

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thu Huệ - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 156/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 174/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Phạm Văn N, sinh ngày 24/4/1991 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn E, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn K và bà Bùi Thị H (bà H đã chết); có vợ là Nguyễn Thị N1 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 08/12/2023 đến ngày 14/12/2023 chuyển tạm giam; có mặt.
  2. Trần Thăng V, sinh ngày 02/4/1982 tại Thanh Hóa; nơi cư trú: Tổ dân phố T, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thăng X và bà Bùi Thị V1; có vợ là Lương Thị H1 và 05 con; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 12/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa quyết định khởi tố bị can về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 2 Điều 157 của Bộ luật Hình sự; bị tạm giữ từ ngày 08/12/2023 đến ngày 14/12/2023 chuyển tạm giam; có mặt.
  3. Phạm Ngọc K1, sinh ngày 15/8/2002 tại Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn K2 và bà Đinh Thị Y; có vợ là Trịnh Thị Mai H2 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 08/02/2018, Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, hình thức xử phạt cảnh cáo (đã xoá); bị tạm giữ từ ngày 08/12/2023 đến ngày 14/12/2023 chuyển tạm giam; có mặt.
  4. Trương Minh H3, sinh ngày 01/12/2001 tại Thanh Hóa; nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn Q và bà Trịnh Thị T; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 12/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa quyết định khởi tố bị can về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 2 Điều 157 của Bộ luật Hình sự; bị tạm giữ từ ngày 28/02/2024 đến ngày 04/3/2024 chuyển tạm giam; có mặt.

- Bị hại: Cháu Tẩn Tả M, sinh ngày 11/8/2008, nơi cư trú: Thôn S, xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Tẩn Láo Ú, sinh năm 1987, nơi cư trú: Thôn S, xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai và bà Chảo Sử M1, sinh năm 1981, nơi cư trú: Thôn B, xã T, thị xã S, tỉnh Lào Cai (là bố mẹ đẻ của bị hại); vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị Thu T1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

  • + Người làm chứng: Anh Phạm Hữu S; có mặt.
  • + Đại diện Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai (nơi bị hại sinh hoạt); vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 10/2023, do có nhu cầu xin việc làm nên cháu Tẩn Tả M, sinh ngày 11/8/2008, trú tại: Thôn B, xã T, thị xã S, tỉnh Lào Cai đã thông qua mạng xã hội Facebook nhờ một người đàn ông tên S1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) để xin việc làm. Sử có biết cháu M sinh năm 2008, chưa đủ tuổi làm việc trong công ty nên bảo M đưa căn cước công dân để S1 giữ và làm căn cước công dân giả ghi sinh năm 2001 để M đủ tuổi được làm việc trong các công ty. Sau đó, cháu M đến làm công nhân tại tỉnh Vĩnh Phúc và Thái Nguyên một thời gian thì nghỉ việc. Thông qua mạng xã hội, cháu M xin làm nhân viên quán karaoke ở địa bàn các tỉnh, thành phố khác nhau như Thái Nguyên, Phú Thọ, Hà Nội. Quá trình làm việc tại các quán karaoke thì M đều nói với mọi người sinh năm 2001 và đưa hình ảnh căn cước công dân giả trên điện thoại, ghi sinh ngày 11/8/2001 cho mọi người xem và đều tin là M sinh năm 2001.

Ngày 23/11/2023, M đến làm nhân viên rót bia, bấm bài cho khách tại quán K3 ở Hà Nội (không rõ địa chỉ) do người phụ nữ tên H4 (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) làm chủ quán. Khi cháu M làm tại đây có vay H4 số tiền 5.400.000 đồng để gửi về cho gia đình 3.000.000 đồng và mua sắm chi tiêu cá nhân. Quá trình làm việc, do M phải làm nhiều không có thời gian nghỉ ngơi, muốn chuyển chỗ làm khác nên đã lên mạng xã hội liên hệ với người có tên FC lát'S để tìm nơi làm việc (M không biết tên tuổi và lai lịch của C). Ngày 27/11/2023, theo thoả thuận C đến quán K3 đón M thì C trả cho chủ quán 5.400.000 đồng tiền M vay H4. Trả xong, C đưa cháu M về làm nhân viên quán hát Hồng V2 cho Trần Thăng V tại thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Khi cháu M về quán, V có hỏi tên tuổi thì M trả lời tên Đ, 18 tuổi. V có thỏa thuận cháu M làm công việc bấm bài tính giờ là 200.000 đồng/giờ, M được hưởng 120.000 đồng, V thu về 80.000 đồng. Khách có nhu cầu thì V bảo nhân viên là Trương Minh H3 chở cháu M đến quán hát. H3 có chở M vài lần nhưng không được sắp xếp phục vụ bấm bài nên chở M về. Thấy cháu M không làm được việc, V bảo H3 xem có chỗ nào đón M về làm không thì nhượng lại với giá 13.000.000 đồng, H3 có liên lạc qua mạng xã hội, gửi hình ảnh của M nhưng không ai nhận. Sau đó, V có bàn với Phạm Ngọc K1 (có quan hệ xã hội với V từ trước) là bán cháu M cho quán khác lấy khoảng 13.000.000 đồng. K1 đồng ý và liên hệ tìm người mua cháu M. Thông qua mạng xã hội, K1 nhờ bạn tên T2 quen qua Z (không rõ nhân thân, lai lịch) tìm hộ người mua M. Chiều 04/12/2023, có một nam giới người Hải Phòng (sau này Khả biết tên là M2) liên lạc qua Z hỏi K1 “chỗ bạn có nhân viên cần đẩy đi à” và M2 hẹn sẽ có người đến đón M.

Khoảng 00 giờ 00' ngày 05/12/2023, sau khi nhận được điện thoại thông báo có người đến đón cháu M thì K1 gọi điện báo cho V việc bán M đi quán khác, V đồng ý. K1 bảo H3 “chúng nó đến đón cái M”, H3 nói “nhà có camera, hẹn ra quán nước để tiện giao người và nhận tiền”. H3K1 bảo M chuẩn bị quần áo rồi K1 điều khiển xe mô tô chở M ngồi giữa, H3 ngồi sau ra quán B, địa chỉ: Số B L, thị trấn T, huyện Q, Thanh Hóa (cách quán H5 khoảng 200m). Tại đây, M gặp Phạm Văn NPhạm Hữu S, sinh năm 2000, trú tại: Thôn G, xã H, huyện T, Hải Phòng. K1, N, H3M đi vào phía bên trong quán ngồi nói chuyện, còn anh S ngồi bên ngoài. Sau đó, H3 nhận được điện thoại của V gọi về chở nhân viên đi làm nên H3 đi ra ngoài lấy xe về. K1 nói với NM làm ở đây toàn bị khách đuổi nên muốn giao M cho N với giá 13.000.000 đồng, N đồng ý và gọi anh S đang ngồi uống nước ở phía ngoài quán vào rồi đưa điện thoại của N cho S nhờ quay video cuộc nói chuyện của cháu M với N nội dung: Nguyện hỏi cháu M sinh năm bao nhiêu thì M nói sinh năm 2001, N cho cháu M vay số tiền 13.000.000 đồng để về làm nhân viên quán hát cho N, tiền công sẽ trả trừ dần. Anh S không biết việc mua bán cháu M. Sau đó, N đưa cho M 8.900.000 đồng (trong đó 900.000 đồng tiền M vay để mua sắm, chi tiêu cá nhân) để M đưa cho K1 và chuyển khoản số tiền 5.000.000 đồng từ số tài khoản 199188456789 Ngân hàng Q1 (M4), chủ tài khoản Phạm Văn N đến số tài khoản 1989333888 Ngân hàng TMCP K4, chủ tài khoản Lương Thị H1 theo yêu cầu của K1. Sau đó, N đưa cháu M về nhà nghỉ T3 ở thôn T, xã V, huyện T, Hải Phòng. Tại đây, cháu M nhắn tin về cho anh Lý Quầy P, sinh năm 1990, trú tại: Thôn B, xã T, thị xã S, tỉnh Lào Cai (là bố dượng cháu M) nói bị người khác mua bán và nhờ gia đình giải cứu. Ngày 06/12/2023, anh P đã làm đơn trình báo Công an thành phố H.

Cơ quan điều tra đã lập Biên bản xác định hiện trường vụ án là quán B tại địa chỉ số B đường L, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Hướng từ ngoài vào trong, gian bên phải là khu vực bàn ghế phục vụ khách ngồi ăn uống. Đi qua khu vực ăn uống là khoảng sân và khu vực vệ sinh. Hiện trường cụ thể ở phía trong, gian bên phải quán có một bàn ăn, mặt bàn bằng đá, kích thước khoảng 1,2m x 1,2m, xung quanh bàn ăn có 03 ghế nhựa màu xanh, ghế cao khoảng 88cm. Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen đã qua sử dụng của Trần Thăng V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax đã qua sử dụng của Phạm Văn N.

Tại Bản kết luận giám định số 1434 ngày 20/5/2024 của Phòng K5 Công an T kết luận: Trong mẫu giám định điện thoại Nokia, màu đen tìm thấy 22 tin nhắn được lưu trong máy. Nội dung chi tiết các dữ liệu được thể hiện tại thư mục có tên “A1” lưu trong đĩa CD kèm theo; Không tìm thấy dữ liệu được lưu trong SIM. Trong mẫu giám định điện thoại Iphone 11 Promax tìm thấy 502 cuộc gọi, 17 ghi chú, 59 tin nhắn tức thì, 128 cuộc hội thoại Facebook, 69 cuộc hội thoại Messages, 104 tin nhắn Recents, 37 cuộc hội thoại zalo, 01 tập tin video được lưu trong máy. Nội dung chi tiết các dữ liệu được thể hiện tại thư mục có tên “A2” lưu trong đĩa CD kèm theo. Tập tin video liên quan đến vụ án quay lại cuộc nói chuyện của cháu M với N có phần mở rộng MOV lưu trong điện thoại không bị cắt ghép, chỉnh sửa.

Kết quả xác minh tại Ngân hàng TMCP K4 thể hiện vào lúc 01 giờ 27 phút ngày 05/12/2023 số tài khoản 1989333888 ngân hàng TMCP K4, chủ tài khoản Lương Thị H1 nhận được số tiền 5.000.000 đồng từ số tài khoản 199188456789 ngân hàng Q1 (M4), chủ tài khoản Phạm Văn N chuyển đến với nội dung “Phạm Văn N chuyển khoản”.

Quá trình điều tra, ngày 07/12/2023 Phạm Văn N, Trần Thăng V, Phạm Ngọc K1 đến Phòng Cảnh sát điều tra, Công an thành phố H đầu thú; ngày 28/02/2024, Trương Minh H3 đến Phòng Cảnh sát điều tra, Công an thành phố H đầu thú. Tại Cơ quan điều tra, các bị can khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Ngoài ra, N còn khai để giúp việc quản lý nhân viên quán hát, N có thuê Lê Văn M3, sinh năm 1996, nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên làm quản lý. Khoảng 20 giờ 00 ngày 04/12/2023, M3 gọi điện cho N bảo “anh ơi có đón bạn ở trong Thanh Hoá không, bạn ấy đang nợ chủ 13.000.000 đồng”, N bảo “có”. Sau đó, N rủ anh Phạm Hữu S đi chơi cùng để khi nào mệt thì nhờ anh S lái xe, không nói cho anh S biết việc đi đón cháu M. Ngoài ra N có nhờ anh S quay video ghi nhận việc M vay tiền và đồng ý về làm với N, rồi trừ nợ dần. N không bàn bạc, phân công nhiệm vụ gì cho Lê Văn M3Phạm Hữu S để mua bán cháu M. M3S cũng không được hưởng lợi gì từ việc mua bán cháu M.

Về số tài khoản 1989333888 ngân hàng TMCP K4, chủ tài khoản Lương Thị H1 (vợ V) sinh năm 1987, nơi cư trú: TDP T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, quá trình điều tra, Trần Thăng V và chị Lương Thị H1 khai nhận: Ngày 04/12/2023, V có công việc đi Lào Cai, V có bảo chị H1 gửi số tài khoản của chị H1 cho K1, đến khoảng hơn 01 giờ ngày 05/12/2023, chị H1 thấy tài khoản ngân hàng của mình nhận được số tiền 5.000.000 đồng từ tài khoản 199188456789 Ngân hàng Q1 (MB) mang tên Phạm Văn N chuyển, chị H1 không hỏi V về nguồn gốc số tiền trên. V cũng không trao đổi, bàn bạc gì với chị H1 về việc chuộc và bán cháu M.

Về vật chứng của vụ án: Chuyển Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng 02 điện thoại di động đã qua sử dụng của các bị can N, V.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại cháu Tẩn Tả M và đại diện bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thường về vật chất và tinh thần số tiền 60.000.000 đồng. Hiện tại, các bị cáo chưa bồi thường.

Tại Cáo trạng số 164/CT-VKS-P2 ngày 23 tháng 7 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội “Mua bán người” theo điểm a khoản 1 Điều 150 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận hành vi vi phạm như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Về trách nhiệm dân sự, các bị cáo đồng ý với yêu cầu bồi thường 60.000.000₫ do bị hại và đại diện của bị hại đưa ra.

Tại phần tranh luận, Kiểm sát viên luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh và khung hình phạt, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt: HĐXX) tuyên bố các bị cáo phạm tội “Mua bán người” và đề nghị HĐXX quyết định mức hình phạt và các vấn đề khác như sau:

1. Về hình phạt:

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 150, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt:

  • Bị cáo Phạm Văn N từ 06 đến 07 năm tù.
  • Bị cáo Trần Thăng V từ 07 đến 08 năm tù.
  • Bị cáo Phạm Ngọc K1 từ 06 đến 07 năm tù.
  • Bị cáo Trương Minh H3 từ 06 đến 07 năm tù.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 592 của Bộ luật Dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo về việc chấp nhận yêu cầu bồi thường của bị hại và đại diện của bị hại. Buộc các bị cáo liên đới bồi thường cho cháu Tẩn Tả M số tiền 60.000.000đ.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 02 điện thoại di động đã thu giữ của N, V. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 13.000.000đ gia đình bị cáo V đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự thành phố Hải Phòng.

Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại phát biểu ý kiến tranh luận. Qua quan điểm phát biểu, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không tranh luận về tội danh, tình tiết định khung và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị HĐXX ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo, buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 60.000.000đ.

Trình bày lời nói sau cùng trước khi nghị án, các bị cáo đều nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức án cho các bị cáo để các bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng và người tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan này trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại và người đại diện của bị hại vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; đại diện Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai (nơi bị hại sinh hoạt) vắng mặt. Xét, việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử các bị cáo cũng như việc giải quyết về trách nhiệm dân sự của các bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, Đại diện Đoàn Thanh niên.

[2] Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại; vật chứng thu giữ, hình ảnh trích xuất từ camera,... Kết hợp chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận các bị cáo có hành vi như sau: Bị cáo Trần Thăng V tiếp nhận cháu Tẩn Tả M từ đối tượng tên C sau đó chỉ đạo các bị cáo Phạm Ngọc K1, Trương Minh H3 tiếp tục chuyển giao cháu M cho bị cáo Phạm Văn N để nhận số tiền 13 triệu đồng từ N. Bị cáo N trả cho V 13 triệu đồng để nhận cháu M về làm việc cho mình. Hành vi “Chuyển giao, tiếp nhận người để giao nhận tiền” của các bị cáo thỏa mãn yếu tố cấu thành tội “Mua bán người”. Tại thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, cháu M được 15 tuổi 03 tháng 24 ngày. Tuy nhiên, cháu M đã được đối tượng tên S1 làm giả Căn cước công dân thể hiện ngày sinh của cháu M là 11/8/2001. Cháu M đã sử dụng Căn cước công dân giả trên để xin vào làm công nhân tại Vĩnh Phúc và Thái Nguyên, sau đó làm tại các quán Karaoke. Khi cháu M về làm tại quán Karaoke của bị cáo V thì V đã hỏi tuổi của cháu MM nói với V là 18 tuổi. Khi N đến trả tiền cho V để đón M thì N cũng hỏi năm sinh của M và được M cho biết sinh năm 2001 và đưa hình ảnh căn cước công dân giả lưu trong điện thoại cho N xem. Như vậy, các bị cáo đều có ý thức xác định tuổi của bị hại trước khi thực hiện hành vi phạm tội, song do bị hại gian dối về tuổi thật của mình, nên các bị cáo không biết được tuổi thật của bị hại. Như vậy, trong trường hợp này không áp dụng tình tiết “phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” là có căn cứ, đảm bảo nguyên tắc “suy đoán vô tội” được quy định tại Điều 13 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội “Mua bán người” theo Điều 150 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tình tiết định khung: Các bị cáo không phải chịu tình tiết định khung tăng nặng. Do vậy, các bị cáo bị xét xử theo khoản 1 Điều 150 của Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.

[4] Về tính chất vụ án: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của các bị cáo không chỉ xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự của con người mà còn vi phạm đạo đức xã hội, gây ảnh hưởng và dư luận xấu đến trật tự, an toàn xã hội, gây bức xúc trong dư luận. Vì vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội các bị cáo đã ra đầu thú. Đối với bị cáo Trần Thăng V: trước khi xét xử, gia đình bị cáo đã nộp khoản tiền khắc phục hậu quả mà bị cáo có được do thực hiện hành vi phạm tội tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng; bị cáo có bố mẹ đẻ là ông Trần Thăng X và bà Bùi Thị V1 tham gia Thanh niên xung phong phục vụ kháng chiến. Tại phiên tòa, các bị cáo tự nguyện liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 60.000.000 đồng. Do vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về phân hóa vai trò: Đây là vụ án có đồng phạm, tuy nhiên các bị cáo đồng phạm mang tính chất giản đơn, không mang tính có tổ chức. Trong vụ án này, bị cáo Trần Thăng V mua cháu M về, sau đó bán lại cho bị cáo N. Bị cáo V là người khởi xướng, chỉ đạo bị cáo H3K1 thực hiện hành vi phạm tội. Đối với bị cáo N, thông qua đối tượng tên M3 đã chủ động liên hệ để mua cháu M về làm nhân viên quán Karaoke của mình, hành vi của N tạo cơ hội cho các bị cáo V, H3, K1 thực hiện hành vi bán người. Do vậy, Hội đồng xét xử đánh giá Trần Thăng Vương có vai trò cao nhất trong vụ án, tiếp đến là các bị cáo còn lại có vai trò ngang nhau.

[8] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò của các bị cáo trong vụ án và nhân thân của mỗi bị cáo. Các bị cáo trong vụ án đều chưa có tiền án. Về tiền sự, bị cáo Phạm Ngọc K1 đã bị Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương xử phạt cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản nhưng đã được xóa, như vậy các bị cáo chưa có tiền sự. Tuy nhiên, về nhân thân đánh giá các bị cáo Trần Thăng VTrương Minh H3 có nhân thân không tốt, bởi lẽ: Ngoài hành vi phạm tội đang bị xét xử, các bị cáo còn bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa khởi tố về tội “Bắt giữ người trái pháp luật” theo khoản 2 Điều 157 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần buộc bị cáo VH3 phải chịu mức án cao hơn bị cáo N và bị cáo K1.

[9] Xử lý vật chứng: Quá trình tiến hành tố tụng, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105, màu đen, số IMEI 1: 352713076256884, số IMEI 2: 352713076256892 của bị cáo Trần Thăng V; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, vỏ màu vàng, số IMEI 1: 352845114667167, số IMEI 2: 352845114671102 của bị cáo Phạm Văn N. Xét, các bị cáo VN đã sử dụng những chiếc điện thoại trên để liên lạc khi thực hiện hành vi phạm tội, riêng bị cáo N đã sử dụng điện thoại để quay Clip ghi lại việc trao đổi với bị hại. Do vậy, xác định đây là những công cụ dùng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[10] Về khoản thu lợi bất chính: Bị cáo Trần Thăng V đã nhận 13.000.000 đồng từ bị cáo N để chuyển giao cháu M cho N nên đây là khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội. Số tiền trên đã được gia đình bị cáo nộp cho Cục thi hành án Dân sự thành phố Hải Phòng (Biên lai thu tiền số 000813 ngày 20/8/2024). Xét, đây là số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội. Do vậy, đối với số tiền này cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[11] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thường 60.000.000 đồng bao gồm các khoản tiền bồi thường tổn thất về vật chất và tinh thần. Tại phiên tòa, các bị cáo đều đồng ý với yêu cầu bồi thường của bị hại và người đại diện của bị hại. Xét, việc chấp nhận yêu cầu bồi thường của các bị cáo tại phiên tòa là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Do vậy, các bị cáo phải liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 60.000.000 đồng. Phần cụ thể mỗi bị cáo phải bồi thường là 15.000.000 đồng.

[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

[13] Về những vấn đề liên quan đến vụ án:

[13.1] Đối với hành vi sử dụng căn cước công dân giả của cháu Tẩn Tả M, do cháu M chưa đủ 16 tuổi nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ. Đối với hành vi làm giả căn cước công dân của cháu M liên quan đến đối tượng “Sử”, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch của “Sử”, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tách ra để tiếp tục xác minh làm rõ.

[13.2] Đối với đối tượng Lê Văn M3 hiện đang vắng mặt ở địa phương, tài liệu điều tra hiện chưa đủ căn cứ xác định M3 biết việc mua bán cháu M giữa NK1; đối với người có tên facebook “C lát’s”, người có tên Z “T2”, người phụ nữ tên “H4” chủ quán K3 hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tách ra để tiếp tục xác minh làm rõ.

[13.3] Quá trình điều tra xác định anh Phạm Hữu S được bị cáo N rủ đi chơi và nhờ quay video cuộc nói chuyện giữa cháu MN. Tài liệu điều tra xác định anh S không biết N mua bán cháu M, không biết mục đích quay video của N để làm gì, không được N bàn bạc, cũng như không được hưởng lợi gì trong việc đi đón cháu M. Tài liệu điều tra không đủ cơ sở để xử lý Phạm Hữu S theo quy định của pháp luật.

[13.4] Khi tiếp nhận cháu M từ các bị cáo V, K1H3, bị cáo N ngoài số tiền 13.000.000đ đã trả cho bị cáo V thông qua bị cáo K1, bị cáo N còn đưa cho bị cáo K1 số tiền 900.000đ. Xét đây là số tiền bị cáo N cho cháu M vay để trả cho các bị cáo V, K1, H3 do trước đó đã vay số tiền này để để chi tiêu cá nhân. Do vậy, đây là quan hệ dân sự giữa bị cáo N với cháu M, Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh, hình phạt:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 150, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn N, Trần Thăng V, Phạm Ngọc K1, Trương Minh H3 phạm tội “Mua bán người”.

Xử phạt:

  • - Bị cáo Trần Thăng V 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 08/12/2023.
  • - Bị cáo Trương Minh H3 07 (bảy) năm tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 28/02/2024.
  • - Bị cáo Phạm Văn N 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 08/12/2023.
  • - Bị cáo Phạm Ngọc K1 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 08/12/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 586, 587 và 592 của Bộ luật Dân sự:

Buộc các bị cáo Phạm Văn N, Trần Thăng V, Phạm Ngọc K1, Trương Minh H3 phải liên đới bồi thường cho bị hại cháu Tẩn Tả M số tiền 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng). Phần cụ thể, mỗi bị cáo phải bồi thường cho bị hại cháu Tẩn Tả M số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền bồi thường nêu trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

3. Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105, màu đen, số IMEI 1: 352713076256884, số IMEI 2: 352713076256892; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, vỏ màu vàng, số IMEI 1: 352845114667167, số IMEI 2: 352845114671102.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 13.000.000đ (mười ba triệu đồng) gia đình bị cáo Trần Thăng V đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự thành phố Hải Phòng (Biên lai thu tiền số 0000813 ngày 20/8/2024).

4. Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Buộc các bị cáo Phạm Văn N, Trần Thăng V, Phạm Ngọc K1, Trương Minh H3 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Buộc các bị cáo Phạm Văn N, Trần Thăng V, Phạm Ngọc K1, Trương Minh H3 mỗi bị cáo phải nộp 750.000đ (bẩy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Tổng cộng, mỗi bị cáo Phạm Văn N, Trần Thăng V, Phạm Ngọc K1, Trương Minh H3 phải nộp 950.000đ (chín trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí.

5. Về quyền kháng cáo:

- Các bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

- Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Thúy

Nguyễn Xuân Tuyến

Nguyễn Thanh Hải

Nơi nhận:

  • - TANDCC; VKSNDCC;
  • - Vụ 1 - TANDTC;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - CQCSĐT- Công an TP. Hải Phòng:
  • - CQTHAHS- Công an TP. Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP. Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Trại tạm giam Công an TP. Hải Phòng;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Phòng KTNV và THA;
  • - Lưu: HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 166/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán người

  • Số bản án: 166/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Nguyện - mua bán người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger