TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA Bản án số: 166/2024/HS-ST Ngày 17 - 7 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Việt Huấn và bà Cầm Thị Đoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Lệ Giang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Nga, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 170/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 168/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với:
Hoàng Văn T, sinh ngày: 10/11/1977 tại huyện K, tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: Bản A, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị H - sinh năm: 1950; có vợ là Lò Thị H1 (đã ly hôn), có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Tại Quyết định số 46/UBND ngày 20/9/2023 của Ủy ban nhân dân xã M áp dụng biện pháp giáo dục tại xã thời hạn 03 tháng; nhân thân: Tại Bản án số 253/2008/HSST ngày 31/7/2008 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Đã được xoá án tích); Tại Quyết định số 158/QĐ-TA ngày 02/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng (Đã xóa tiền sự); bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/5/2024 đến nay, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lò Văn H2, sinh năm: 1973; nơi cư trú: Bản L, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lò Văn H2: Anh Lò Mạnh C, sinh năm: 1993; nơi cư trú: Bản L, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La (theo văn bản ủy quyền ngày 17/5/2024); có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bản thân Hoàng Văn T nghiện chất ma tuý. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 16/5/2024, Hoàng Văn T nhìn thấy ông Lò Văn H2 điều khiển xe máy BKS 26AA – 111.85 nên nảy sinh ý định nhờ ông H2 chở vào bản C, xã Đ, huyện M mục đích tìm mua ma túy sử dụng. T nói với ông H2 là nhờ chở vào bản C để tìm mua gốc ổi, ông H2 đồng ý. Do trước đó đã uống rượu nên ông H2 để T điều khiển xe máy BKS 26AA – 111.85, chở ông H2 ngồi phía sau đi vào bản Co Sung. T và ông H2 có đi đến một số nhà người dân không quen biết trong bản Co Sung hỏi mua gốc ổi nhưng không được. Trên đường đi ra đến khu vực sân bóng bản Co Sung, T bảo ông H2 xuống xe để T mượn xe đi khoảng 20 phút có việc riêng. T một mình tiếp tục điều khiển xe máy đi vào đường dân sinh của bản Co Sung thì gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết 01 gói ma túy được gói bằng mảnh nilon màu trắng bên trong có 01 gói nilon màu đỏ đựng Heroine và 01 gói nilon màu đỏ bên trong đựng 05 viên hồng phiến (Methamphetamine) với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Hoàng Văn T cất giấu ma túy trong hậu môn rồi đón ông Lò Văn H2 đi về. Khi về đến khu vực bản Á, xã Đ, huyện M thì bị tổ công tác Công an xã Đ, huyện M kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của Hoàng Văn T: 01 gói nilon màu trắng bên trong đựng 02 gói nilon màu đỏ, trong đó: 01 gói nilon màu đỏ bên trong đựng 05 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY, nghi là Methamphetamine và 01 gói nilon màu đỏ bên trong đựng cục chất bột màu trắng nghi là H3. Thu giữ của ông Lò Văn H2: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu DETECH, BKS: 26AA-111.85, màu sơn nâu, số máy: VDEJQ139FMB3800687, số khung: RPEDCBVUMJA800687.
Ngày 16/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã tiến hành mở niêm phong, kiểm đếm và xác định số lượng, khối lượng vật chứng nghi là ma tuý thu giữ của Hoàng Văn T như sau: Số lượng 05 viên nén màu hồng có khối lượng 0,52 gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định, mẫu có ký hiệu T1; chất cục bột màu trắng có khối lượng 0,66 gam, lấy 0,20 gam làm mẫu giám định ký hiệu T2, còn lại 0,46 gam ghi mẫu ký hiệu T3.
Tại Kết luận giám định số 1101/KL-KTHS ngày 20/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận:
- Mẫu ký hiệu T1 gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,52 gam;
- Mẫu ký hiệu T2 gửi giám định là ma tuý, loại Heroine, có tên khoa học là D, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,20 gam;
- Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,52 gam, loại Methamphetamine và 0,66 gam, loại Heroine, có tên khoa học là D.
Cáo trạng số 115/CT-VKS ngày 01/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn T trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:
Trả lại cho ông Lò Văn H2 (người đại diện theo ủy quyền của ông H2 là anh Lò Mạnh C) 01 chiếc xe máy nhãn hiệu DETECH, BKS: 26AA-111.85, màu sơn nâu, số máy: VDEJQ139FMB3800687, số khung: RPEDCBVUMJA800687.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì bên trong đựng 01 túi nilon màu trắng bên trong đựng cục chất bột màu trắng ký hiệu T3 có khối lượng 0,46 gam (là H3), 01 mảnh nilon màu trắng, 02 mảnh nilon màu đỏ và phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Hoàng Văn T; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Lò Văn H2.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu phát biểu luận tội, bị cáo Hoàng Văn T nhất trí với toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng:
- Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Lò Văn H2 đã có văn bản ủy quyền hợp lệ cho con trai là anh Lò Mạnh C tham gia tố tụng trong vụ án để xin nhận lại chiếc xe máy. Anh Lò Mạnh C có đơn xin xét xử vắng mặt và trình bày ý kiến. Xét thấy việc vắng mặt anh Lò Mạnh C không làm ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, số ma túy bị cáo bị tổ công tác Công an xã Đ, huyện M thu giữ vào ngày 16/5/2024 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết với giá 300.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an xã Đ, huyện M lập vào hồi 16 giờ 15 phút ngày 16/5/2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; kết luận giám định; lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Hoàng Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 16/5/2024 bị cáo Hoàng Văn T đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,52 gam Methamphetamine và 0,66 gam Heroine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Căn cứ Điều 4 Chương II Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý tại một số điều của Bộ luật hình sự thì tổng khối lượng của các chất ma tuý Methamphetamine và Heroine thu giữ của Hoàng Văn T là 0,52 gam + 0,66 gam = 1,18 gam. Do đó, hành vi của bị cáo Hoàng Văn T đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Vì vậy, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[6] Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy, bị cáo có 01 tiền án đã được xóa án tích về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, có 01 tiền sự bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (đã được xóa tiền sự) và 01 tiền sự bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã (chưa được xóa tiền sự), nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục tái nghiện ma tuý dẫn đến có hành vi phạm tội.
Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa thấy rằng bị cáo không có tài sản gì có giá trị, không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu DETECH, BKS: 26AA-111.85, màu sơn nâu, số máy: VDEJQ139FMB3800687, số khung: RPEDCBVUMJA800687 thu giữ của ông Lò Văn H2. Xét thấy việc bị cáo Hoàng Văn T mượn xe máy để đi mua ma túy vào ngày 16/5/2024 ông Lò Văn H2 hoàn toàn không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo T. Chiếc xe máy là tài sản hợp pháp của ông Lò Văn H2, ông H2 có đơn xin lại chiếc xe máy và ủy quyền cho con trai là anh Lò Mạnh C nhận lại tài sản. Do đó, cần giao trả cho ông Lò Văn H2 (người đại diện theo ủy quyền của ông H2 là anh Lò Mạnh C) nhận lại xe máy để quản lý, sử dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Đối với 01 phong bì bên trong đựng 01 túi nilon màu trắng bên trong đựng cục chất bột màu trắng ký hiệu T3 có khối lượng 0,46 gam (là H3), 01 mảnh nilon màu trắng, 02 mảnh nilon màu đỏ và phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Hoàng Văn T; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Lò Văn H2. Xét thấy đây là những vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[11] Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Hoàng Văn T, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.
Về thời hạn tạm giam còn lại của bị cáo còn dưới 45 ngày, do đó Hội đồng ra quyết định tạm giam để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù.
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 16/5/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:
Trả lại cho ông Lò Văn H2 (người đại diện theo ủy quyền của ông H2 là anh Lò Mạnh C) 01 chiếc xe máy nhãn hiệu DETECH, BKS: 26AA-111.85, màu sơn nâu, số máy: VDEJQ139FMB3800687, số khung: RPEDCBVUMJA800687.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì bên trong đựng 01 túi nilon màu trắng bên trong đựng cục chất bột màu trắng ký hiệu T3 có khối lượng 0,46 gam (là H3), 01 mảnh nilon màu trắng, 02 mảnh nilon màu đỏ và phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Hoàng Văn T; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Lò Văn H2.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về quyền kháng cáo:
- Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17 tháng 7 năm 2024).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Thị Thu Trang |
Bản án số 166/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 166/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hoàng Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 16/5/2024 bị cáo Hoàng Văn T đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,52 gam Methamphetamine và 0,66 gam Heroine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
