Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHÀ BÈ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 166/2024/DS-ST.

Ngày: 17/7/2024.

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Doãn Thị Duyên.
  • Các hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Lâm Thị Thu.
  • 2/ Ông Dương Quốc Trung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè tham gia phiên tòa: Bà Lê Hà Bảo Trân – Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 312/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1028/2024/QĐXXST-DS ngày 24/6/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng N.
Địa chỉ: số B L, phường T, Quận B, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Lý Đạo Phú Q, sinh năm 1987.
Địa chỉ liên hệ: NL 03-05 Khu biệt thự phố kinh doanh N1, đường N, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Có mặt)

Bị đơn: Ông Bùi Quang T, sinh năm 1977.
Bà Trần Thị Tú U, sinh năm 1982.
Cùng địa chỉ: Tổ A, khu phố L, phường K, thị xã T, tỉnh Bình Dương.
(Xin vắng mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Hoàng V, sinh năm 1986.
Địa chỉ: B tổ A, ấp A, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng N có người đại diện theo ủy quyền là ông Lý Đạo Phú Q trình bày:

Vào ngày 02/3/2021, ông Bùi Quang T, bà Trần Thị Tú U đã ký Hợp đồng tín dụng số 6350-LAV-202100073/HĐTD với Ngân hàng N (sau đây viết tắt là Ngân hàng), nội dung như sau:

  • Số tiền vay: 800.000.000 đồng (Bằng chữ: Tám trăm triệu đồng).
  • Mục đích sử dụng tiền vay: Bổ sung vốn nuôi tôm.
  • Thời hạn vay là 12 tháng, kể từ ngày bên nhận tiền vay lần đầu vào ngày 03/3/2021 đến hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 02/3/2022 đã được gia hạn đến ngày 02/3/2023.
  • Lãi suất trong hạn: 9,0%/năm (lãi suất tại thời điểm ký Hợp đồng tín dụng);
  • Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn;
  • Phương thức trả nợ (gốc): cuối kỳ vào ngày 02/3/2023;
  • Phương thức trả nợ (lãi): trả 3 tháng/lần vào ngày 02 của tháng đến hạn.

Để bảo đảm cho khoản vay, ông Phạm Hoàng V đã đồng ý dùng tài sản của mình là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 2341, tờ bản đồ số 05, địa chỉ tại ấp M, xã P, huyện C, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BG 196172, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH01538 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp ngày 21/11/2011 để thế chấp bảo đảm cho khoản vay của ông T, bà U theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất của người khác số 6350-LCP-202100075/HĐTC ngày 02/3/2021, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 02/3/2021.

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, ông T, bà U đã trả cho Ngân hàng một phần tiền lãi là: 53.822.871 đồng. Kể từ ngày 16/12/2021, ông T, bà U vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Tính đến ngày 17/7/2024, ông T, bà U còn nợ Ngân hàng tổng cộng số tiền là: 1.035.706.302 đồng (Bằng chữ: Một tỷ không trăm ba mươi lăm triệu bảy trăm lẻ sáu ngàn ba trăm lẻ hai đồng), trong đó: Nợ gốc: 800.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 186.095.343 đồng; Nợ lãi quá hạn: 49.610.959 đồng;

Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu ông T, bà U có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng ông T, bà U vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

Nay, Ngân hàng N yêu cầu ông Bùi Quang T, bà Trần Thị Tú U phải trả cho Ngân hàng tổng cộng số tiền tính đến ngày 17/7/2024 là: 1.035.706.302 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 18/7/2024 cho đến ngày trả hết số nợ theo mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng nêu trên.

Trường hợp ông T, bà U không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền nợ gốc, nợ lãi thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 2341, tờ bản đồ số 05, địa chỉ tại ấp M, xã P, huyện C, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BG 196172, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH01538 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp ngày 21/11/2011 để thu hồi nợ.

Nếu số tiền phát mại tài sản đảm bảo không đủ trả hết khoản nợ của ông T, bà U tại Ngân hàng, ông T, bà U phải có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.

Ngân hàng yêu cầu ông T, bà U trả cho Ngân hàng số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng đã tạm ứng là 10.000.000 đồng.

Bị đơn ông Bùi Quang T và bà Trần Thị Tú U có đơn xin vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Ông Bùi Quang T và bà Trần Thị Tú U thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về quan hệ tín dụng và thế chấp, số tiền nợ gốc và lãi còn thiếu tính đến ngày 06/6/2024. Ông Bùi Quang T và bà Trần Thị Tú U đồng ý trả toàn bộ số tiền còn nợ tính đến ngày 06/6/2024 theo Hợp đồng tín dụng số 6350-LAV-202100073/HĐTD ngày 02/03/2021. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên bị đơn xin gia hạn thời hạn trả nợ đến chậm nhất là ngày 15/7/2024. Nếu sau ngày 15/7/2024 bị đơn không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6350-LCP-202100075/HĐTC ngày 02/3/2021 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 10.000.000 đồng đã được Ngân hàng N tạm ứng, ông T, bà U đồng ý chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đồng ý trả lại cho Ngân hàng N số tiền là 10.000.000 đồng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Hoàng V có đơn xin vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Ông Phạm Hoàng V thống nhất đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, trong trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp số 6350-LCP-202100075/HĐTC ngày 02/3/2021 theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán kể từ khi thụ lý vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và qua phần tranh tụng tại phiên tòa hôm nay, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án:

    1. Căn cứ đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng tín dụng được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Nguyên đơn lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết là nơi nguyên đơn có chi nhánh nên theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

    2. Ông Bùi Quang T và bà Trần Thị Tú U là bị đơn, ông Phạm Hoàng V là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

  2. Về yêu cầu của các đương sự:

    1. Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông Bùi Quang T và bà Trần Thị Tú U trả số tiền tính đến ngày 17/7/2024 là: 1.035.706.302 đồng, trong đó: nợ gốc là 800.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 186.095.343 đồng; nợ lãi quá hạn: 49.610.959 đồng và các khoản tiền lãi phát sinh tính theo mức lãi suất đã thỏa thuận kể từ ngày 18/7/2024 đến ngày trả hết nợ. Phương thức trả: Trả một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

      Hội đồng xét xử xét:

      Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 6350-LAV-202100073/HĐTD ngày 02/3/2021 và sự thừa nhận của các đương sự có đủ cơ sở kết luận ông T, bà U có vay của Ngân hàng số tiền 800.000.000 đồng. Thời hạn vay là 12 tháng. Lãi suất tại thời điểm cho vay là 9,0%/năm và tiếp tục thay đổi trong các trường hợp theo quy định tại hợp đồng tín dụng là phù hợp quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2 quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng và Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

      Thực hiện hợp đồng tín dụng, ông T và bà U đã nhận đủ số tiền là 800.000.000 đồng và đã trả cho Ngân hàng một phần tiền lãi là 53.822.871 đồng.

      Trong quá trình vay, ông T và bà U đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng từ ngày 16/12/2021. Việc ông T và bà U không tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng là đã vi phạm các quy định trong thỏa thuận cho vay được các bên ký kết tại hợp đồng tín dụng. Theo đó, số tiền ông T và bà U phải trả cho Ngân hàng tính đến ngày 17/7/2024 là: 1.035.706.302 đồng, trong đó: Nợ gốc là 800.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 186.095.343 đồng; nợ lãi quá hạn là 49.610.959 đồng và các khoản tiền lãi phát sinh tính theo mức lãi suất đã thỏa thuận, kể từ ngày 18/7/2024 đến ngày trả hết nợ.

      Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng”.

      Trong trường hợp này, ông T và bà U là bên vi phạm về nghĩa vụ trả nợ và thời hạn trả nợ trong hợp đồng tín dụng. Vì vậy, Ngân hàng có quyền thu hồi nợ trước thời hạn và chấm dứt hợp đồng tín dụng nêu trên là có căn cứ. Ngân hàng N yêu cầu Tòa án buộc ông T và bà U phải trả số tiền tính đến ngày 17/7/2024 là: 1.035.706.302 đồng, trong đó: Nợ gốc là 800.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 186.095.343 đồng; nợ lãi quá hạn là 49.610.959 đồng và các khoản tiền lãi phát sinh tính theo mức lãi suất đã thỏa thuận, kể từ ngày 18/7/2024 đến ngày trả hết nợ là hoàn toàn có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

      Ông T và bà U trình bày do điều kiện kinh tế khó khăn nên vi phạm nghĩa vụ thanh toán và đồng ý trả nợ cho Ngân hàng chậm nhất là ngày 15/7/2024. Tuy nhiên đến ngày Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án này bị đơn vẫn chưa trả toàn bộ số nợ cho nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng dân sự là sự tự nguyện thỏa thuận của các bên, việc bị đơn không trả nợ đúng hạn là vi phạm thỏa thuận của hợp đồng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng do đó việc Ngân hàng yêu cầu ông T bà U phải trả toàn bộ số tiền còn nợ làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

    2. Đối với yêu cầu trong trường hợp ông T và bà U không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, trả không đầy đủ số tiền gốc và tiền lãi hoặc vi phạm thời hạn thanh toán nêu trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp để thu hồi toàn bộ nợ.

      Hội đồng xét xử xét:

      Để đảm bảo cho khoản vay, ông Phạm Hoàng V đã đồng ý dùng tài sản của mình là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 2341, tờ bản đồ số 05, địa chỉ tại ấp M, xã P, huyện C, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BG 196172, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH01538 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp ngày 21/11/2011 để thế chấp bảo đảm cho khoản vay của ông T, bà U theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất của người khác số 6350-LCP-202100075/HĐTC ngày 02/3/2021, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 02/3/2021.

      Tài sản thế chấp nêu trên thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông V, việc ông V đồng ý dùng tài sản của mình để thế chấp đảm bảo khoản vay của ông T và bà U tại Ngân hàng là hoàn toàn tự nguyện, các bên đã thực hiện đúng quy định về thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền theo đúng trình tự quy định về đăng ký biện pháp bảo đảm được quy định tại Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 nên có giá trị ràng buộc đối với các bên đã ký kết trong hợp đồng thế chấp.

      Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất của người khác số 6350-LCP-202100075/HĐTC ngày 02/03/2021 cụ thể là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 2341, tờ bản đồ số 05, địa chỉ tại ấp M, xã P, huyện C, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BG 196172, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH01538 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp ngày 21/11/2011 để thu hồi nợ nếu ông T, bà U không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

      Trong trường hợp số tiền phát mại tài sản nêu trên không đủ thanh toán số tiền nợ cho Ngân hàng, ông T và bà U tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ còn thiếu cho Ngân hàng đến khi thực trả hết nợ.

    3. Về chi phí tố tụng: Ngân hàng yêu cầu ông T và bà U trả cho Ngân hàng số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng đã tạm ứng là 10.000.000 đồng.

      Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được Hội đồng xét xử chấp nhận và ông T, bà U cũng đồng ý trả lại cho Ngân hàng số tiền chi phí tố tụng mà Ngân hàng đã nộp Ngân hàng không phải chịu chi phí này. Ông T, bà U có trách nhiệm hoàn trả một lần cho Ngân hàng số tiền 10.000.000 đồng, ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.

    Hoàn trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40, Điều 91, Điều 146, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 227, 228, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 41, 295, 299, 357, 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng 2010.

Căn cứ Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2 quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng và Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. Buộc ông Bùi Quang T và bà Trần Thị Tú U phải trả cho Ngân hàng N số tiền tính đến ngày 17/7/2024 là: 1.035.706.302 đồng (Một tỷ không trăm ba mươi lăm triệu bảy trăm lẻ sáu nghìn ba trăm lẻ hai đồng), trong đó: Nợ gốc là : 800.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là: 186.095.343 đồng; Nợ lãi quá hạn là: 49.610.959 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 6350-LAV-202100073/HĐTD ngày 02/3/2021. Phương thức trả: trả làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Ông Bùi Quang T và bà Trần Thị Tú U có trách nhiệm tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 18/7/2024 theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 6350-LAV-202100073/HĐTD ngày 02/3/2021 cho đến khi trả hết nợ.

    Trong trường hợp ông Bùi Quang T và bà Trần Thị Tú U không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền còn nợ thì Ngân hàng N được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 2341, tờ bản đồ số 05, địa chỉ tại ấp M, xã P, huyện C, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BG 196172, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH01538 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp ngày 21/11/2011 để thu hồi nợ.

    Trường hợp số tiền phát mại tài sản nêu trên không đủ trả số tiền nợ cho Ngân hàng N, ông Bùi Quang T và bà Trần Thị Tú U tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ còn thiếu cho Ngân hàng đến khi thực trả hết nợ. Trường hợp sau khi phát mại mà giá trị tài sản phát mại lớn hơn số nợ ông Bùi Quang T và bà Trần Thị Tú U còn phải trả cho Ngân hàng thì ông Phạm Hoàng V được quyền hưởng giá trị chênh lệch lớn hơn này.

    Trường hợp ông Bùi Quang T và bà Trần Thị Tú U trả đủ số nợ nêu trên mà không phải thực hiện việc phát mại tài sản thế chấp thì Ngân hàng N phải tiến hành giải chấp và trả lại cho ông Phạm Hoàng V toàn bộ hồ sơ bản chính của tài sản thế chấp mà Ngân hàng đang giữ.

  2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Bùi Quang T và bà Trần Thị Tú U có trách nhiệm trả cho Ngân hàng N số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

    Các bên thi hành án tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

  3. Án phí dân sự sơ thẩm là: 43.071.189 đồng, ông Bùi Quang T và bà Trần Thị Tú U phải chịu.

    Ngân hàng N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 19.902.280 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2023/0007448 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Nhà Bè;
  • - CC THADS huyện Nhà Bè;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Doãn Thị Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 166/2024/DS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 166/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger