|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 166/2024/HS-ST Ngày: 15 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Thái
Ông Vũ Văn Quỳnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 171/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lù Văn U; Tên gọi khác: Không;
Sinh năm: 1987 tại tỉnh Điện Biên;
Nơi thường trú - nơi ở hiện tại: Bản C, xã M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Con ông: Lù Văn L và bà: Lù Thị A; Bị cáo chung sống như vợ chồng với chị Quàng Thị Đ và có 02 con (lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2010). Có đăng ký kết hôn với chị Quàng Thị D và có 01 con sinh năm 2021; Tiền án: không, tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sơn La xử phạt 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. (Đã chấp hành xong bản án được coi là đương nhiên xóa án tích). Bị tạm giữ từ ngày 09/4/2024 sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử. (Có mặt).
2. Họ và tên: Cứ A T; Tên gọi khác: Không;
Sinh năm: 1980 tại tỉnh Điện Biên;
Nơi thường trú - nơi ở hiện tại: Bản L, xã M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; Con ông: Cứ Nghìa S và bà: Vàng Thị S; Bị cáo có vợ: Vàng Thị T và 05 con (con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2014); Tiền án: không, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 09/4/2024 sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 00 phút ngày 09/4/2024, tổ công tác Công an thành phố Đ làm nhiệm vụ tại khu vực Bản L, xã M, thành phố Đ, phát hiện tại nhà của Cứ A T ngoài T còn có Lù Văn U. Sau khi được Tổ công tác tuyên truyền, vận động, giải thích T khai nhận đang cất giấu ma túy và tự giác lấy từ trong lòng bàn tay trái của mình ra 01 gói nilon màu hồng, bên trong có chứa các cục chất bột thể rắn, màu trắng đục. T khai đó là ma túy (Heroine) T mua của người phụ nữ đân tộc Mông không quen biết ở bản L bằng tiền của U. U thừa nhận đã đưa 50.000 đồng cho T đi mua ma túy về để cả hai cùng sử dụng chung.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói như trên bên trong có chứa các cục chất bột thể rắn, màu trắng đục, khối lượng 0,24 gam.
Tại bản kết luận giám định số 678/KL-KTHS ngày 16/4/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Vật chứng có khối lượng vật chứng là 0,24 gam là chất ma túy: Loại Heroin (Heroine). Hoàn lại đối tượng giám định có khối lượng 0,19 gam có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo.
Tại bản cáo trạng số 104/CT-VKSTPĐBP ngày18/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đã truy tố các bị cáo về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX):
Tuyên bố các bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 38, 58/BLHS: Xử phạt bị cáo T từ 13 đến 16 tháng tù; Xử phạt bị cáo U từ 14 đến 17 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,19 gam Heroine còn lại sau giám định, 01 mảnh nilon màu hồng không còn giá trị sử dụng. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đề nghị buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm .
Tại phiên tòa các bị cáo không tranh luận gì về phần luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Các bị cáo không bào chữa gì cho hành vi của mình.
Lời nói sau cùng: Bị cáo U đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội. Bị cáo T không trình bày gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp nhau, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma túy niêm phong lại vật chứng, Kết luận giám định... Do đó, có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 11 giờ 00 phút ngày 09/4/2024, tại Bản L, xã M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, Cứ A T đã có hành vi cất giấu trái phép 0,24 gam Heroine với mục đích để cùng Lù Văn U sử dụng chung. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Các bị cáo đều thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Đây là vụ án đồng phạm nhưng không có tính tổ chức. Giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể. Bị cáo T là người trực tiếp đi mua và cất giấu ma túy. Bị cáo U là người khởi xướng, đưa tiền cho bị cáo T để mua ma túy nên có vai trò tích cực hơn, vì vậy phải chịu hình phạt cao hơn khi lượng hình. Ý thức của các bị cáo là mua ma túy về cùng nhau sử dụng nên cùng phải chịu trách nhiệm hình sự đối với khối lượng ma túy thu giữ.
[2]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52/BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.
Về nhân thân: Các bị cáo là đối tượng sử dụng chất ma túy.
Bị cáo T: Chưa bị Tòa án nào xét xử, chưa bị cơ quan nào xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo U: Tại bản án số 64/2019/HSST ngày 24/5/2019 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sơn La xử phạt 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo đã chấp hành xong bản án được coi là đương nhiên xóa án tích nhưng bị coi là có nhân thân xấu.
Hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo nên HĐXX chấp nhận.
[3]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS thì ngoài hình phạt chính người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo là người nghiện ma túy, đều không có tài sản gì có giá trị, nghề nghiệp tự do và thu nhập không ổn định. Vì vậy, HĐXX chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo vì các bị cáo không có khả năng thi hành.
[4]. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Đối với 0,24 gam Heroine, sau khi gửi toàn bộ để giám định còn lại 0,19 gam là vật nhà nước cấm tàng trữ; 01 mảnh nilon là vật dùng gói ma túy không có giá trị, không sử dụng được nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
[5]. Các vấn đề khác: Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Tủa không có cơ sở xác minh làm rõ, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập nên HĐXX không xem xét xử lý đối với những người này.
[6]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo, người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đều hợp pháp.
[7]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lù Văn U, Cứ A T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lù Văn U 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (09/4/2024).
Xử phạt bị cáo Cứ A T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (09/4/2024);
3. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 0,19 gam Heroine vật chứng còn lại sau giám định, 01 mảnh nilon màu hồng.
(Vật chứng đã được niêm phong và được Công an thành phố Điện Biên Phủ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/7/2024).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/8/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Minh Huệ |
Bản án số 166/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 166/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CỨ A T, LÙ VĂN U
