TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 166/2024/HS-PT
Ngày: 12/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Hà
Ông Nguyễn Gia Lương
- Thư ký phiên toà: Bà Lương Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng T - Kiểm sát viên.
Ngày 12/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 36/2024/TLPT-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Trần Văn H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2024/HS-ST ngày 02/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 233/2024/QĐXXPT-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024.
* Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Trần Văn H, sinh ngày 05/3/2006; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn G, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Dao; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn Q và bà Bàn Thị M; vợ con chưa có.
Nhân thân: Ngày 16/9/2023 bị Viện KSND tỉnh B truy tố về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã xử phạt bị cáo H 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, bị cáo đang kháng cáo.
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo đang tại ngoại. (Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)
* Ngoài ra trong vụ án còn có 08 bị cáo khác nhưng không liên quan đến kháng cáo, không có kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 20/5/2023, Vi Văn T1, sinh năm 2003 trú tại thôn B, xã N, huyện L mời một số người bạn gồm Nguyễn Tiến T2, Bế Văn H1; Hoàng Nhật Q1, Trần Hoài N, Vi Tiến Đ, Loan Thanh T3, Nguyễn Hữu T4, Nguyễn Chiến H2, cùng trú tại thôn B, xã N, huyện L; Phạm Quý C, Vi Thế V cùng trú tại thôn M, xã N, huyện L; T, Tô Thanh T5, Tống Văn N1, cùng trú tại thôn Đ, xã N, huyện L; Vi Anh Đ trú tại thôn S, xã N, huyện L; Phạm Đăng C1, Phạm Tiến D, cùng trú tại thôn Q, xã N, huyện L; Nguyễn Văn L, trú tại thôn N, xã N, huyện L; Nguyễn Đức M1, sinh năm 2006 trú tại thôn N, xã N, huyện L; Phùng Ngọc T6, sinh năm 2006 trú tại thôn M, xã N huyện L; Hoàng Văn K, sinh năm 2007 và Lành Minh P, sinh năm 2007 cùng trú tại thôn H, xã N, huyện L đến nhà liên hoan, ăn tối. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày khi mọi người đang ăn tối tại nhà T1 thì có nhóm thanh niên gồm Trần Bảo N2, sinh năm 2008; Trần Anh T7, sinh năm 2008 cùng trú tại thôn Đ, xã V, huyện L; Xổ Quang Đ1, sinh năm 2009; Phùng Văn Đ2, sinh năm 2008 cùng trú tại thôn B, xã V, huyện L; Đ, sinh năm 2008 trú tại thôn A, xã V, huyện L; Lý C, sinh năm 2008 cùng trú tại thôn T, xã V, huyện L; Phạm Thế C2, sinh năm 2009 trú tại thôn V, xã T, huyện L đi chơi hội Suối Mỡ trên 03 xe mô tô và đang đỗ đổ xăng ở quán tạp hóa gần nhà T1. Khi cả nhóm đang đứng đổ xăng thì có thanh niên đến quán tạp hóa mua hàng và chửi nhóm của Trần Bảo N2. Nghi ngờ người thanh niên vừa chửi đang ăn tối ở nhà T1 nên trên đường về Nam bức xúc và bảo mọi người đợi để về đón Giáp Văn T8, sinh năm 2008 trú tại thôn Đ, xã V, huyện L đến nói chuyện với nhóm thanh niên ở nhà T1. Sau khi đón được T8 thì N2, T8 cầm theo nhiều vỏ chai bia (loại vỏ chai bia thủy tinh) rồi phát cho Đ1, N3 và cả bọn rủ nhau quay lại ném vỏ chai bia vào nhóm thanh niên ở nhà T1. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi nhóm của T1 đang ngồi ăn tối thì Giáp Văn T8, Trần Bảo N2, Xổ Quang Đ1, Đồng Xuân N4, Phùng Văn Đ2, Phạm Thế C2, Lý C, Trần Anh T7 đi trên 03 xe mô tô qua rồi T8, Đoàn, N2, N4 cầm vỏ chai bia ném về phía nhóm của T1 nhưng không gây thương tích cho ai. Sau đó nhóm của Giáp Văn T8 bỏ chạy hướng về hướng xã V, huyện L. Do bức xúc vì bị ném nên T1 cùng một số người bạn rủ nhau đi tìm nhóm thanh niên vừa ném vỏ bia để nói chuyện. Nhóm của T1 đi xe mô tô đến khu vực cầu T giáp ranh giữa xã N với xã V nhưng không gặp ai nên quay về nhà T1 tiếp tục ăn uống. Khi nhóm T1 đang ăn thì có người trong nhóm của T1 nói nhóm Vô T9 đang đi ra thì Nguyễn Hữu T4, Nguyễn Văn L, Nguyễn Đức M1, Nguyễn Tiến T2, Vi Tiến Đ, Trần Hoài N, Phạm Tiến D rủ nhau đi tìm nhóm thanh niên xã V. Khi đi thì Nguyễn Tiến T2 điều khiển xe mô tô chở Vi Tiến Đ cầm gạch, Trần Hoài N điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Hữu T4 cầm gạch, Phạm Tiến D điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Văn L và Nguyễn Đức M1 cầm gậy tre, mục đích để đi đánh nhóm thanh niên đã ném vỏ chai bia lúc trước. Một số thanh niên có mặt ở nhà T1 cũng đi xe mô tô theo sau gồm Vi Anh Đ3, Phạm Quý C, Bế Văn H1, Hoàng Văn K và Bùi Văn T10, sinh năm 2006 trú tại thôn N, xã N; Nguyễn Tuấn V1, sinh năm 2006 trú tại thôn K, xã N, huyện L.
Cùng thời điểm này có nhóm thanh niên ở xã L, huyện L gồm Đỗ Đặng C3, sinh năm 2006; Nguyễn Như T11, sinh năm 1997; Nguyễn Như C4, sinh năm 2005 cùng trú tại thôn Đ, xã L, huyện L; Nguyễn Tài A, sinh năm 2006 trú tại thôn H, xã L, huyện L; Ngô Thế V2, sinh năm 2005 và Lý Tiến Đ4, sinh năm 2005 cùng trú tại thôn H, xã T, huyện L; Triệu Quang N5, sinh năm 2006 trú tại thôn V, xã L, huyện L; Trần Văn H, sinh năm 2006 trú tại thôn G, xã L, huyện L; Bàn Văn H3, sinh năm 2007 trú tại thôn Đ, xã B, huyện L; Đỗ Bảo K1, sinh năm 2007 trú tại thôn T, xã B, huyện L; Nguyễn Xuân H4, sinh năm 2007 trú tại thôn L, xã T, huyện L, Trương Văn H5, sinh năm 2003; Phùng Văn M2, sinh năm 2006 và Tơ Văn G, sinh năm 2006 cùng trú tại thôn N, xã B, huyện L đang đi trên đường hướng về xã B, huyện L. Đến khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày khi nhóm của Đỗ Đặng C3 đi xe mô tô qua khách sạn S đến cổng làng thôn D, xã N thì rủ nhau quay lại thị trấn Đ, huyện L uống nước. Khi nhóm của Đỗ Đặng C3 đang đi theo hướng xã N đi thị trấn Đ, huyện L thì gặp nhóm của Nguyễn Hữu T4 đang đi ngược chiều đến. Nghi ngờ nhóm C3 vừa ném vỏ chai bia nên nhóm của T4 đã quay đầu xe đuổi đánh. Thấy nhóm thanh niên xã N đuổi đánh thì nhóm của C3 lái xe mô tô bỏ chạy. Khi đến cổng khách sạn S, C3 lái xe chở T11, A lái xe chở V2 đi vào trong cổng khách sạn. Nhóm của T4 đuổi theo đến cổng khách sạn, L nhảy xuống xe chạy đuổi theo vào trong thì bị T11 cầm 01 chổi nhựa dài khoảng 1,5 m, C3 cầm 01 chổi tre dài khoảng 02 m, V2 cầm 01 hòn đá lấy trong sân khách sạn ra đuổi đánh lại, còn Anh bỏ chạy vào phía trong khách sạn. Chuyên cầm chổi tre khua khoắng, T11 cầm 01 chổi nhựa đuổi đánh và ném về phía nhóm của T4, sau đó T11 tiếp tục nhặt 01 hòn đá ở đường và cùng V2 ném đá về phía nhóm của T4 nhưng không trúng ai. Lúc này nhóm thanh niên xã N có M1 cầm 01 gậy tre, T4 cầm 01 viên gạch, Đ4 cầm 01 viên gạch, L cầm 01 viên gạch cũng ném về phía C3, T11, V2 nhưng cũng không trúng ai. Cùng lúc đó Triệu Quang N5 lái xe mô tô chở Trần Văn H đi đến trước cổng khách sạn S thì dừng lại, H nhảy xuống xe đi về phía T11, C3, V2 đang đứng ở cổng khách sạn, H nhặt 01 gậy gỗ ở rìa đường đuổi đánh nhóm thanh niên xã N nhưng không đánh được ai. Nhóm của T4 lái xe mô tô bỏ chạy hướng về phía Suối Mỡ, xe mô tô của Bế Văn H1 điều khiển chở Phạm Quý C và Nguyễn Văn L đi sau cùng. Thấy vậy, N5 lái xe đuổi theo xe mô tô của H1 rồi giơ chân phải lên đạp nhưng không trúng ai. Bàn Văn H3 lái xe chở Đỗ Bảo K1 và Nguyễn Xuân H4 cầm gạch cũng đuổi theo xe mô tô của Bế Văn H1. Khi đến gần xe mô tô của H1, K1 và H4 ngồi sau cầm gạch ném về phía xe của H1 thì sượt qua chân của L nhưng không gây thương tích, H1 điều khiển xe mô tô vòng quay lại hướng về xã V. Khi H1 đang quay đầu xe thì L nhảy xuống xe bỏ chạy vào một nhà dân gần đó, N5, H3 điều khiển xe mô tô đuổi theo xe mô tô của H1 đang chở C. Khi đến cổng làng thôn D, xã N thì xe của N5 vượt qua xe mô tô của H1. Lúc này H1 điều khiển xe mô tô rẽ phải vào cổng làng thì bị K1 cầm gạch ném trúng vào đầu H1 khiến H1 bị thương ngã ra đường. Sau đó C điều khiển xe mô tô chở H1 đi về nhà T1 rồi cùng mọi người đưa H1 đến Trung tâm y tế huyện L để điều trị.
Ngày 21/5/2023, chị Vi Thị Y, sinh năm 1988 trú tại thôn B, xã N, huyện L (là mẹ của H1) có đơn trình báo gửi Công an xã N, huyện L về việc H1 bị đánh gây thương tích.
Cơ quan điều tra đã thu giữ 03 đoạn video từ camera an ninh của khách sạn S do anh Nguyễn Văn H6, sinh năm 1995 ở tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L giao nộp và từ camera an ninh được UBND xã N tại cổng khách sạn S và ở cổng làng thôn D, xã N do anh Nguyễn Hữu H7, sinh năm 1986 trú tại thôn D, xã N giao nộp, ghi lại nội dung có liên quan đến hành vi gây rối trật tự công cộng của các bị cáo.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định xác định thương tích, cơ chế hình thành thương tích của Bế Văn H1. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1486 ngày 22/6/2023 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B đối với Bế Văn H1 kết luận:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
Thương tích vết sẹo kích thước trung bình vùng chẩm + Phiếu chụp cắt lớp vi tính: Hình ảnh vỡ lũn diện hẹp xương chẩm trái kèm dập não lân cận + CT-Scanner sọ não: Hiện không thấy bất thường nội sọ. Vỡ lún xương chẩm trái đường kính ~ 15mm + Điện não đồ: Hoạt động chấn động não: 17%; Thương tích vết sẹo kích thước nhỏ vùng thái dương phải: 1%; Chạm thương mu bàn tay phải không cỏn dấu vết: 0%; Thương tích vết sẹo kích thước trung bình mặt sau cẳng tay trái: 2%; Thương tích vết sẹo kích thước (4,5x2,5)cm mặt sau khuỷu tay phải: 2%; Thương tích vết sẹo kích thước (4x1,7)cm mặt sau khuỷu tay phải: 2%; Thương tích vết sẹo kích thước (2x1,5)cm gối phải: 2%; Thương tích vết sẹo kích thước (1,5x1) cm gối phải: 2%; Thương tích vết sẹo kích thước (1x0,8) cm gối phải: 2%.
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Bế Văn H1 tại thời điểm giám định là 27%.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định các đoạn video thu giữ. Tại kết luận giám định số 1284 ngày 14/7/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép nội dung hình ảnh trong các file video lưu trữ trong 02 đĩa DVD-R gửi giám định; Trích xuất được 32 hình ảnh thể hiện diễn biến của sự việc có trong 03 file video gửi giám định.
Cơ quan điều tra Công an huyện L đã tiến hành cho các bị cáo xem lại video thu giữ, kết quả: Các bị cáo đã nhận ra và khẳng định nội dung trong các đoạn video là ghi lại việc các bị cáo tham ra đánh nhau, gây rối trật tự công cộng trước cổng khách sạn S vào tối ngày 20/5/2023, cụ thể: Đỗ Đặng C3 có hành vi cầm chổi tre; Nguyễn Như T11 cầm chổi nhựa, đá; Trần Văn H cầm gậy gỗ đuổi đánh, quăng ném về phía nhóm của Nguyễn Hữu T4; Triệu Quang N5 có hành vi dùng xe mô tô đuổi đánh Bế Văn H1. Nguyễn Hữu T4, Nguyễn Văn L có hành vi cầm gạch, Nguyễn Đức M1 cầm 01 gậy tre quăng ném về phía nhóm của Nguyễn Như T11. Nguyễn Tiến T2 điều khiển xe mô tô chở Vi Tiến Đ4 cầm gạch; Phạm Tiến D điều khiển xe mô tô chở L và M1 cầm gậy tre để đuổi đánh nhóm của Nguyễn Như T11.
Tại Cơ quan điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
* Với nội dung trên Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2024/HS-ST ngày 02/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn H 01 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên án đối với các bị cáo khác, giải quyết về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
* Ngày 10/7/2024, bị cáo Trần Văn H kháng cáo xin hưởng án treo.
* Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Trần Văn H vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng, không rút đơn kháng cáo, giữ nguyên yêu cầu xin hưởng án treo. Không cung cấp tài liệu gì mới, khác so với phiên tòa sơ thẩm.
* Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo Trần Văn H 01 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
* Bị cáo không có quan điểm tranh luận gì.
* Lời nói sau cùng: Bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để sóm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về sự vắng mặt của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo đã được Tòa án thông báo ngày giờ xét xử nhưng bị cáo vắng mặt không có lý do. Bị cáo không rút đơn kháng cáo, giữ nguyên yêu cầu xin hưởng án treo. Hội đồng xét xử thấy việc bị cáo vắng mặt không có lý do, không có tài liệu gì chứng minh bị cáo vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Hội đồng xét xử thấy sự vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử và việc xét xử không làm xấu đi tình trạng của bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 290 Bộ luậ tố tụng hình sự.
[2]. Về tội danh của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong quá trình điều tra và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 20/5/2023, khi Nguyễn Hữu T4, Nguyễn Văn L, Nguyễn Đức M1, Nguyễn Tiến T2 và Phạm Tiến D đang ngồi ăn cơm tại nhà Vi Văn T1 ở thôn B, xã N, huyện L cùng những người bạn thì bị Giáp Văn T8, Xổ Quang Đ, Đồng Xuân N4, Trần Bảo N2 ném vỏ chai bia. Do bực tức nên T4, M1, L, T2, D đã đi xe mô tô tìm đánh nhóm của Giáp Văn T8 để trả thù. Khi cả nhóm đi đến khu vực trước cửa khách sạn S thì gặp Đỗ Đặng C3, Nguyễn Như T11, Triệu Quang N5, Trần Văn H, Ngô Thế V2 đi chơi hội Suối Mỡ về. Do nhận nhầm nhóm của Đỗ Đặng C3 là nhóm thanh niên đã ném vỏ chia bia vào mình nên nhóm của Nguyễn Hữu T4 đã đuổi đánh nhóm của Đỗ Đặng Chuyên. Sau đó cả hai nhóm đã dùng gạch đá, gậy gỗ, chổi để đánh ném nhau gây náo loạn trước khu vực cổng khách sạn S, cụ thể: Đỗ Đặng C3 có hành vi cầm chổi tre; Nguyễn Như T11 cầm chổi nhựa, đá; H cầm gậy gỗ đuổi đánh, quăng ném về phía nhóm của Nguyễn Hữu T4; Triệu Quang N5 có hành vi dùng xe mô tô đuổi đánh Bế Văn H1. Nguyễn Hữu T4, Nguyễn Văn L có hành vi cầm gạch, Nguyễn Đức M1 cầm 01 gậy tre quăng ném về phía nhóm của Nguyễn Như T11. Nguyễn Tiến T2 điều khiển xe mô tô chở Vi Tiến Đ4 cầm gạch; Phạm Tiến D điều khiển xe mô tô chở L và M1 cầm gậy tre để đuổi đánh nhóm của Nguyễn Như T11. Hành vi của các bị can nêu trên gây mất trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến an toàn giao thông, gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
Bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, không oan, sai. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố ý phạm tội nên cần xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho loại tội này.
Do bị cáo H chỉ kháng cáo xin hưởng án treo nên Hội đồng xét xử thấy có căn cứ xác định bị cáo phạm tội như bản án sơ thẩm đã xét xử nên chỉ xem xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
[3]. Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Văn H, HĐXX thấy:
Trong vụ án này, các bị cáo M1, L, T2, T4, D khi đang ăn uống và bị ném vỏ chai bia, bị cáo đã chủ động đi tìm người ném và mang theo vũ khí để đánh nhau nên các bị cáo giữ vai trò thứ nhất trong vụ án. Các bị cáo T11, C3, N5, H bị nhầm tưởng là đã ném vỏ chai bia nên bị đuổi đánh, các bị cáo tự vệ để chống trả nên giữ vai trò thứ 2.
Bị cáo Trần Văn H là người có nhân thân xấu, ngày 16/9/2023 bị Viện KSND tỉnh B truy tố về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã xử phạt bị cáo H 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, bị cáo đang kháng cáo. Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Xét thấy bị cáo nhiều lần có hành vi gây rối trật tự công cộng, bị khởi tố và xét xử trong hai vụ án, chứng tỏ bị cáo có thái độ coi thường pháp luật. Bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo. Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo H 01 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” là phù hợp, không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp cho Hội đồng xét xử tình tiết nào mới, khác so với Tòa án cấp sơ thẩm. Do vậy Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo như đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang đã nêu tại phiên tòa.
[4]. Án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo Trần Văn H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn H. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 71/2024/HS-ST ngày 02/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Án phí phúc thẩm: Bị cáo Trần Văn H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hải Hường |
Bản án số 166/2024/HS-PT ngày 12/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm (gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 166/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Huy - Gây rối TTCC
