|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 166/2024/HS-ST
Ngày: 09/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán sơ cấp - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quang Tuyến
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Nguyễn Hữu Đệ
- 2/ Bà Trần Thị Đông
- - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Oanh - Kiểm sát viên sơ cấp.
Trong ngày 09/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 160/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H - sinh năm 1994; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn L và
bà Nguyễn Thị L1; Vợ Trần Thị T; Có 02 con lớn sinh 2012, nhỏ sinh 2014; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2. Tiền án, tiền sự: Không.
D chỉ bản số 338 lập ngày 19/4/2024 của Công an huyện Đ, thành phố Hà Nội; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 11/4/2024 đến đến nay tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Nguyễn Doãn Phương N, sinh năm 2001; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :
Hồi 14 giờ 45 phút ngày 11/4/2024, tổ công tác Công an xã T, Công an huyện Đ tiến hành kiểm tra hành chính đối với hộ gia đình Nguyễn Văn H tại thôn T, xã T, huyện Đ, Hà Nội. Quá trình kiểm tra, phát hiện Nguyễn Văn H đang ngồi trên giường trong phòng ngủ và Nguyễn Doãn Phương N, sinh năm 2001; thường trú ở cùng thôn T đang trốn trong phòng vệ sinh. Nguyễn Văn H và Nguyễn Doãn Phương N có biểu hiện vừa sử dụng trái phép chất ma túy.
Tạm giữ vật chứng:
Kiểm tra phòng ngủ phát hiện trên mặt giường vị trí H đang ngồi có:
- - 01 hộp nhựa màu trắng kích thước (3x6x9) cm bên trong có:
- + 01 túi nilon màu trắng, kích thước (4x7) cm bên trong có 15 viên nén hình tròn màu hồng;
- + 04 túi nilon màu trắng, kích thước (2,5x2.5) cm bên trong đều chứa tinh thể màu trắng;
- + 01 túi nilon màu trắng, kích thước (5x8) cm bên trong chứa 03 túi nilon màu trắng, kích thước (2x2) cm bên trong đều chứa tinh thể màu trắng và 02 túi nilon màu trắng, kích thước (2,5x2,5) cm bên trong đều chứa tinh thể màu trắng.
- - 01 mảnh giấy bạc kích thước (2x16) cm đã qua sử dụng.
- - 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu đỏ, trên nắp có gắn hai ống hút nhựa.
- - 01 đoạn ống nhựa màu trắng dài 09 cm.
- - 01 bật lửa ga màu xanh.
Tại mặt bàn trên phòng ngủ có :
- + 01 điện thoai Oppo, vỏ màu đen, lắp sim số thuê bao 0971424061.
- + 400.000 đồng.
-Thu giữ tại lòng bàn tay trái của Nguyễn Doãn Phương N 01 điện thoại Iphone, vỏ màu trắng, lắp sim số thuê bao 0936368677. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn H không phát hiện, thu giữ gì. Khám người theo thủ tục hành chính đối với Nguyễn Văn H: Không phát hiện gì.
Xét nghiệm nước tiểu tìm chất ma túy đối với Nguyễn Văn H và Nguyễn Doãn Phương N kết quả dương tính.
Tại kết luận giám định số 2826 ngày 11/4/2024, của Phòng K - C1 kết luận giám định số:
- - 15 viên nén hình tròn màu hồng bên trong 01 túi nilon có tổng khối lượng 1,482 gam đều là ma túy loại Methamphetamine.
- - Tinh thể màu trắng bên trong 04 túi nilon có tổng khối lượng 0,824 gam đều là ma túy loại Methamphetamine.
- - Tinh thể màu trắng bên trong 05 túi nilon có tổng khối lượng 0,589 gam đều là ma túy loại Methamphetamine.
- - 01 mảnh giấy bạc và 01 đoạn ống nhựa màu trắng dài 09 cm đều dính ma túy loại Methamphetamine.
Tổng số ma túy bị thu giữ là 2,895 gam là ma túy loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra làm rõ: Khoảng 11 giờ ngày 11/04/2024, Nguyễn Văn H thông qua ứng dụng M sử dụng tài khoản có tên “B” liên lạc đến tài khoản tên “N” của Nguyễn Doãn P. H rủ N: Anh ở nhà chán quá, đi ra đây chơi với anh, anh có đồ ngon lắm. N hiểu là H rủ cùng sử dụng chất ma túy nên đồng ý và nói: Đợi em tý, em đang vay tiền. Khoảng 20 phút sau, N đi bộ đến nhà H, vào phòng ngủ gặp H, H lấy hộp nhựa bên trong có túi ma túy “ngựa” tức loại ma túy
Methamphetamine và các túi nilon chứa ma túy “đá” tức loại ma túy Methamphetamine từ trong ngăn kéo tủ phía đầu giường ra. H chuẩn bị chai nhựa, ống hút, bật lửa gas, giấy bạc thành các công cụ để sử dụng ma túy, sau đó H lấy 01 viên ma túy “ngựa” cùng một ít ma túy “đá” ở mỗi túi nilon để vào mảnh giấy bạc, dùng bật lửa đốt phía dưới giấy bạc rồi dùng chai nhựa và ống hút để hít khói ma túy bốc lên từ mảnh giấy bạc. Hoàng hít được 02 “khói” thì đưa ống hút cho N, N cầm ống hút còn H đốt lửa phía dưới giấy bạc cho Nam hít ma túy ngay trên giường ngủ của H. Khi H và N đang sử dụng ma túy thì có nam thanh niên tên Quang M1 (bạn của H, không rõ nhân thân, lai lịch) đến nhà H. H cho Quang M1 sử dụng ma túy tại phòng ngủ nhà mình. Sau đó, M1 đi đâu, làm gì thì H và N không biết. Đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày BỊ Công an xã T kiểm tra hành chính, phát hiện tạm giữ niêm phong các vật chứng có liên quan và đưa cả hai về trụ sở để làm việc.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H và Nguyễn Doãn Phương N khai nhận nội dung vụ việc như nêu trên, lời khai của H và N phù hợp với các tài liệu điều tra đã thu thập được. Về nguồn gốc số ma túy, Nguyễn Văn H khai là của Nghiêm Đình L2, sinh năm 1989; thường trú tại thôn T, xã T, huyện Đ, Hà Nội, L2 gửi số ma túy này cho Nguyễn Văn H vào ngày 08/4/2024 tại phòng ngủ nhà H. Tại Cơ quan điều tra ngày 15/04/2024, Nghiêm Đình L2 khai không liên lạc và không đưa ma túy cho H. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa H và L2. Tuy nhiên ngoài lời khai của H ra không có tài liệu nào khác, nên không có đủ căn cứ kết luận số ma túy đã thu giữ của H là của L2, không có căn cứ xử lý đối với L2. Cơ quan điều tra đã làm rõ số thuê bao 098.828.5xxx H khai L2 sử dụng liên hệ với H, chủ thuê bao là bà bà Trần Kim C, sinh năm 1954; thường trú tại số B, Khóm H, P.02, Thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Bà C xác định không quen biết gì với H và L2. Việc L2 sử dụng số điện thoại trên liên lạc với H, bà C không biết và không liên quan, nên không có căn cứ kết luận.
Xử lý vật chứng:
- - 01 phong bì niêm phong dán kín bên trong có 01 đoạn ống nhựa màu trắng dài 09 cm dính ma túy Methamphetamine; 01 mảnh giấy bạc dính ma túy Methamphetamine; 2,467 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định (PC09 thu mẫu: 0,428 gam) bên ngoài có chữ ký của cán bộ niêm phong, giám định viên và Nguyễn Văn H.
- - 01 bình sử dụng ma túy tự chế; 01 bật lửa gas; 01 hộp nhựa màu trắng kích thước (03x06x09)cm; 01 mảnh giấy bạc kích thước (2x16)cm đã qua sử dụng.
- - 01 điện thoại Iphone, vỏ màu trắng, lắp sim số thuê bao 0936.368.677 thu giữ của Nguyễn Doãn Phương N, sử dụng vào việc trao đổi sử dụng ma túy với H.
- - 01 điện thoai Oppo, vỏ màu đen, lắp sim số thuê bao 0971.424.061 thu giữ của Nguyễn Văn H, đã sử dụng vào việc phạm tội.
- - Số tiền 400.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn H.
Cơ quan điều tra chuyển toàn bộ số vật chứng trên đến Chi cục THADS huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với Nguyễn Doãn Phương N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 10/7/2024 Công an huyện Đ căn cứ khoản 2, Điều 9 Luật XLVPHC ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.250.000 đồng.
Đối với nam thanh niên tên “Quang M1” là bạn xã hội của Nguyễn Văn H có hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Do H không biết rõ nhân thân lai lịch của người này, nên không xử lý được.
Tại cáo trạng số 116/CT-VKS ngày 09/2/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
Các bị cáo khai nhận tội như nội dung cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn H từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
Đối với số ma tuý thu giữ của bị cáo và các công cụ sử dụng ma tuý cần tịch thu tiêu huỷ.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 400.000 đồng và các điện thoại bị cáo và tiền liên quan đến việc phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với các điện thoại di động cùng sim thu giữ của bị cáo và các đối tượng liên quan cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Không phạt tiền bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện Đ thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử.
[2] Về hành vi và tội danh: Lời khai nhận tội bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra. Được chứng minh bằng các vật chứng của vụ án đã được thể hiện trong hồ sơ vụ án mà các bị cáo dùng để phục vụ việc Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015( sửa đổi bổ sung năm 2017).
Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
b) Đối với 02 người trở lên;"
[3] Về nhân thân, tiền án, tiền sự và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
- - Về tiền án, tiền sự:
- Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
- - Về nhân thân: Xác định bị cáo đều có nhân thân tốt.
- - Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Khi lượng hình, Tòa án đã xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo để từ đó có hình phạt tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo, cụ thể:
- + Tình tiết tăng nặng: Không
- + Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đây là tình tiết giảm nhẹ cần áp dụng của Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo
[4] Về hình phạt:
- Hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo tiếp xâm hại đến chính sách đặc quyền quản lý của nhà nước về các chất độc hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, gây nguy hại cho xã hội và bị nhà nước quy định là tội phạm, bị cáo nhận thức được ma túy là chất độc dược gây nghiện, nó hủy hoại sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các căn bệnh xã hội trong đó có HIV/AIDS và các tội phạm khác nhưng vì ham muốn bản thân mà bị cáo đã liều lĩnh Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là loại chất do nhà nước độc quyền quản lý. Đây là vụ án Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã thể hiện ý thức coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn huyện Đ cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo nhằm hạn chế các loại tội phạm ma túy trên địa bàn huyện Đ nói riêng và thành phố Hà Nội nói chung. Do đó, áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt tù có thời hạn với bị cáo, xử phạt bị cáo hình phạt tù trong khung hình phạt cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định, thì người phạm tội có thể còn bị phạt tiền...Tuy nhiên, xét trong trường hợp này các bị cáo chưa có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.
[5] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Đối với số ma tuý thu giữ của bị cáo và các công cụ sử dụng ma tuý cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với số tiền 400.000 đồng và các điện thoại di động thu giữ cùng sim của bị cáo và đối tượng liên quan liên quan đến việc phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Xử lý vật chứng như vậy là đúng với quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ: Điểm b Khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Căn cứ: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331; Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cùng danh mục kèm theo.
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”
Xử phạt: Nguyễn Văn H 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2024.
Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý thu giữ của bị cáo và các công cụ sử dụng ma tuý.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước các điện thoại di động thu giữ cùng sim của bị cáo và của Nguyễn Doãn Phương N liên quan tới việc phạm tội.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 7 năm 2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh).
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Số tiền 400.000 đồng đã nộp theo Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.9056757 tại Kho bạc Nhà nước huyện Đ ngày 29 tháng 7 năm 2024.
Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quang Tuyến |
Bản án số 166/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 166/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tòa án nhân dân huyện Đông Anh xét xử vụ án Tổ chức, sử dụng trái phép chất ma túy
