|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 166/2024/HS-ST |
|
|
Ngày: 06/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI NGHĨA VIỆT NAM.
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà.
Thẩm phán: Bà Lê Thị Tố Như.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Thúy.
Ông Nguyễn Danh Lơi.
Bà Mai Thị Viện.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Kim Oanh- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: bà Trịnh Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 160/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2024/QĐXXST-HS ngày 20/8/2024, đối với bị cáo:
Bùi Tuấn V: sinh năm 1974; số CCCD: [...]; Nơi cư trú: thôn Đ, xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Bùi Chí H (đã chết), con bà Lê Thị T - sinh năm 1945; Vợ: Trịnh Thị H1 - sinh năm 1981, có 02 con (con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2006); Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/4/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh T; Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Thị T1 - thuộc Công ty L3- Đoàn Luật sư tỉnh T. Có mặt.
Địa chỉ: Lô E, Đại lộ V, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Người bị hại: anh Trần Văn H2, sinh năm 1974. Có mặt.
Địa chỉ: Khu phố M, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
* Người làm chứng:
-
Ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1958. Có mặt.
Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
-
Ông Trương Văn C, sinh năm 1974. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
-
Cháu Nguyễn Kha L1, sinh năm 2007. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
-
Cháu Nguyễn Hồ Tuấn V1, sinh năm 2008. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Người giám hộ cho cháu Nguyễn Kha L1 và Nguyễn Hồ Tuấn V1: ông Trịnh Văn H3 - Giáo viên trường THPT H4, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
-
Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1973. Có mặt.
Địa chỉ: Khu phố M, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
-
Ông Đinh Văn N, sinh năm 1963. Vắng mặt.
Địa chỉ: Khu P, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
-
Ông Hoàng Ngọc T2, sinh năm 1962. Vắng mặt.
Địa chỉ: Khu T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 14/12/2023, Bùi Tuấn V (ở thôn Đ, xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa) là người chạy xe ôm và bán hàng cháo tại cổng Bệnh viện Đa khoa huyện H đang ở khu vực cổng Bệnh viện thì thấy có khách đi xe ôm, V ra hỏi thì được biết người khách này anh Trần Văn H2 (sinh năm 1974, ở thôn M, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa) là nhân viên bảo vệ trung tâm uống thuốc, điều trị Methanol thuộc Trung tâm y tế huyện H đã thỏa thuận làm giá và nhận chở khách đi xe. Sau đó anh H2 lấy xe máy để chở khách đi thì V nói “để tôi chở đi cho” nhưng anh H2 không nói gì mà chở người khách đi luôn.
Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi uống rượu ở xã M, huyện H về, V vào quán cháo của gia đình mình lấy 01 con dao (dạng dao inox gọt hoa quả, phần lưỡi dao dài khoảng 10cm) và 01 quả khế đi ra bờ sông trước cổng Bệnh viện đa khoa huyện H gọt ăn. Sau khi ăn xong, V bỏ con dao vào túi quần bò phía sau rồi đi vào khu vực trông giữ xe của bệnh viện ngồi nói chuyện với ông Đinh Văn N (sinh năm 1963, ở khu phố P, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa). Cùng lúc này anh H2 đi xe máy đến khu điều trị Methanol để thực hiện ca trực. Khi anh H2 đi bộ sang phòng bảo vệ của Bệnh viện Đa khoa huyện H thì gặp ông Nguyễn Ngọc L (sinh năm 1958, ở khu phố T, thị trấn H) là bảo vệ của Bệnh viện. Lúc này, ông L chỉ tay về phía nhà trông giữ xe của Bệnh viện và nói với anh H2 “H2 ơi, thằng V đang chửi mày ở kia kìa”. Nghe vậy, anh H2 đi bộ sang gặp V thì V nói “H2 ơi mày chơi đẹp đấy”; anh H2 nói lại “Chú có gì để anh chơi, mà chơi chú anh được cái gì”. Ngay sau đó, giữa V và anh H2 xảy ra to tiếng, thách thức nhau. Thấy anh H2 vén áo lộ bụng, ngay sau đó V lấy con dao dắt ở túi quần phía sau và đâm 01 (một) nhát vào vùng bụng anh H2. Hậu quả: Anh H2 bị thương phải đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa huyện H và Bệnh viện đa khoa tỉnh T.
Sau khi đâm anh H2, V đi ra ngoài Bệnh viện đi về quán cháo của mình, rồi đi hướng về xã T với ý định tạm lánh một thời gian. Trên đường đi V gặp bạn và được động viên nên V đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện H đầu thú và khai báo hành vi phạm tội của mình (BL 01-03; 224-237; 239-259; 276-297).
* Khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường vụ án được xác định là khu vực phía trước giáp ranh giữa nhà xe Bệnh viện và khu gian hàng trưng bày sản phẩm thuộc bên trong khuôn viên Bệnh viện đa khoa huyện H. Lực lượng chức năng đã tiến hành khám nghiệm hiện trường; ghi nhận và thu giữ các dấu vết, vật chứng theo quy định (BL 57-68).
* Thương tích và Kết quả giám định:
Theo Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể anh Trần Văn H2: có 01 (một) vết thương rách da, chảy máu, kích thước 2x2cm, bờ mép sắc gọn tại vùng hạ sườn phải. Kiểm tra hồ sơ bệnh án, kết quả: Vết thương gây xuyên thấu gan đường vào ở hạ phân thùy VIII mặt hoành, đường ra ở phân hạ thùy IV của gan. Phải tiến hành phẫu thuật khâu cầm máu nhu mô gan.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 59/KLTTCT-PYTH ngày 19/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T (BL 200, 201) kết luận: Tại thời điểm giám định anh Trần Văn H2 tổn hại 34% (Ba tư phần trăm) sức khỏe.
Tại Bản giám định vật gây thương tích số 60/KLVGTT-PYTH ngày 26/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T (BL: 211, 212) kết luận:
- Vết thương rách da, chảy máu vùng hạ sườn phải kích thước 2x2cm, bờ mép sắc gọn: Do tác động của ngoại lực được tạo nên bởi vật có cạnh sắc.
- Tại thời điểm giám định pháp y về vật gây thương tích, không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích. Tuy nhiên căn cứ vào các tài liệu hồ sơ giám định do Cơ quan trưng cầu cung cấp, cho phép Trung tâm P nhận định chiều hướng tác động của vật gây thương tích như sau: Vết thương rách da, chảy máu vùng hạ sườn phải kích thước 2x2cm, bờ mép sắc gọn, vết có chiều từ ngoài vào trong, từ trước ra sau.
Kết luận giám định bổ sung vật gây thương tích số 352/KLVGTT-PYTH ngày 15/3/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh T (BL 219, 220), kết luận: Đối với thương tích của anh Trần Văn H2 được ghi nhận trong các tài liệu, hồ sơ giám định do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H cung cấp nếu không được cấp cứu kịp thời thì có thể dẫn đến hậu quả chết người.
* Đồ vật thu giữ:
Quá trình điều tra đã thu giữ 01 (một) chiếc dép phải cỡ 45, làm bằng nhựa dẻo, dài 27cm, chỗ rộng nhất 9,5cm, màu xanh lơ, loại dép cũ. Ngày 25/4/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là anh Trần Văn H2.
Theo lời khai của bị cáo Bùi Tuấn V, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H đã tiến hành truy tìm vật chứng là con dao mà V sử dụng gây án nhưng không có kết quả (BL 70-73).
* Về trách nhiệm dân sự:
Ngày 10/3/2024, bị cáo đã khắc phục, bồi thường cho bị hại Trần Văn H2 số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Anh H2 đề nghị bị cáo phải bồi thường thêm số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).
Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
* Tại bản cáo trạng số 90/CT-VKS-P2 ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo về tội "Giết người" theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Bùi Tuấn V từ 09 đến 10 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam.
Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 590 Bộ luật dân sự, công nhận sự thỏa thuận giữa bị hại và bị cáo về bồi thường dân sự như sau: bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại tổng số tiền 100.000.000đ, đã bồi thường 50.000.000đ, còn phải bồi thường 50.000.000đ.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
* Ý kiến của người bị hại anh Trần Văn H2: tại phiên tòa, bị cáo đã nhận thấy việc làm của mình là sai, đã xin lỗi anh; sau khi phạm tội đã bồi thường cho anh khắc phục một phần hậu quả. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền còn lại cho anh.
* Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo:
Thống nhất với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; động cơ phạm tội do có sự bực tức với người bị hại về việc tranh giành khách đi xe ôm, tuy nhiên không có sự chuẩn bị hung khí từ trước; sau khi phạm tội đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận với việc làm của mình; đã bồi thường 01 phần cho người bị hại; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; hoàn cảnh gia đình bị cáo hết sức khó khăn, vợ bị bệnh tâm thần, con đang học phổ thông, bị cáo là lao động chính trong gia đình; quá trình sinh sống ở địa phương chấp hành tốt các quy định của pháp luật và địa phương, chưa có vi phạm gì. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội cải tạo và sớm được trở về với gia đình và xã hội.
* Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với nội dung bào chữa của Luật sư, không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ vào buổi sáng ngày 14/12/2023 về việc tranh giành khách đi xe ôm giữa bị cáo và anh Trần Văn H2, nên vào khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi uống rượu ở xã M, huyện H về, bị cáo vào quán cháo của gia đình mình lấy 01 con dao (dạng dao inox gọt hoa quả, phần lưỡi dao dài khoảng 10cm) và 01 quả khế đi ra bờ sông trước cổng Bệnh viện đa khoa huyện H gọt ăn. Sau khi ăn xong, bị cáo bỏ con dao vào túi quần bò phía sau rồi đi vào khu vực trông giữ xe của bệnh viện ngồi nói chuyện với ông N thì thấy anh H2 đi bộ sang gặp bị cáo. Bị cáo nói “H2 ơi mày chơi đẹp đấy”; anh H2 nói lại “Chú có gì để anh chơi, mà chơi chú anh được cái gì”. Sau đó, giữa bị cáo và anh H2 xảy ra to tiếng, thách thức nhau. Thấy anh H2 vén áo lộ bụng, bị cáo đã lấy con dao giắt ở túi quần phía sau và đâm 01 (một) nhát vào vùng bụng anh H2. Hậu quả: Anh H2 bị thương phải đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa huyện H và Bệnh viện đa khoa tỉnh T, bị tổn hại 34% sức khỏe.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ trong việc tranh giành khách đi xe ôm, bị cáo đã có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm, có tính sát thương cao đâm vào bụng là vùng trọng yếu trên cơ thể anh H2 làm anh H2 bị tổn hại 34% sức khỏe, nếu không được cấp cứu kịp thời thì có thể dẫn đến hậu quả chết người, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS, như Quyết định truy tố và luận tội của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa là có căn cứ pháp luật.
[2.2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xuất phát từ mâu thuẫn trong việc tranh giành khách đi xe ôm, bị cáo đã bực tức và dùng dao (là hung khí nguy hiểm) đâm vào bụng anh H2 làm tổn hại 34% sức khỏe, đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe con người được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu và tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải được xử lý nghiêm minh, cách ly khỏi xã hội thời gian dài để giáo dục cải tạo và răn đe phòng ngừa chung.
[2.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:
- Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận với việc làm của mình; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bồi thường khắc phục 01 phần hậu quả cho người bị hại; người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ bị bệnh tâm thần, con đang học phổ thông; là lao động chính trong gia đình; quá trình sinh sống ở địa phương chấp hành tốt các quy định của pháp luật và địa phương, chưa có vi phạm gì. Vì vậy, khi quyết định hình phạt, HĐXX xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt, để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt.
Bị cáo phạm tội trong trường hợp phạm tội chưa đạt nên được áp dụng Điều 15, Điều 57 Bộ luật hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt.
[3] Về trách nhiệm dân sự: công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại về bồi thường dân sự như sau: bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho anh Trần Văn H2 tổng số tiền 100.000.000đ, đã bồi thường 50.000.000đ, còn phải bồi thường 50.000.000đ.
[4] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Tuấn V phạm tội “Giết người”.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Tuấn V 09 (chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam (ngày 19/4/2024).
Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 585, 586, 587, 590 Bộ luật dân sự, công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại về bồi thường dân sự như sau: bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho anh Trần Văn H2 tổng số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng), đã bồi thường 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng), còn phải tiếp tục bồi thường 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chưa thi hành khoản tiền phải thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.
Về án phí: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000đ (hai triệu, năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo và người bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thu Hà |
Bản án số 166/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự (giết người)
- Số bản án: 166/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do mâu thuẫn về việc đi xe ôm, Bùi Tuân Vũ dùng dao đâm anh Trần Văn Hà làm tổn hại 34% sức khỏe.
