Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỦY NGUYÊN

T PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 166/2024/HS-ST

Ngày 05 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, T PHỐ HẢI PHÒNG

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Đức Cảnh

Ông Bùi Đình Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, T phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, T phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, T phố Hải Phòng, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 149/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Phạm Văn C, sinh năm 1966, tại Hải Phòng; nơi cư trú: huyện Thủy Nguyên, T phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con của ông Phạm Văn M (đã chết) và bà Phạm Thị Ch; có vợ là Phạm Thị H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29 tháng 5 năm 2024. Có mặt.

2. Phạm Văn T, sinh năm 1982, tại Hải Phòng; nơi cư trú: huyện Thủy Nguyên, T phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn V và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Nguyễn Thị Th và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29 tháng 5 năm 2024. Có mặt.

Bị hại: Anh Hoàng Văn L, sinh năm 1990; nơi cư trú: huyện Thủy Nguyên, T phố Hải Phòng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Hoàng Văn L có thuê Phạm Văn C làm công việc chăn nuôi và trồng trọt tại nhà của anh L tại thôn 3, xã Cao Nhân, huyện Thủy Nguyên, với mức lương 6.500.000 đồng/1tháng. Đến ngày 05 tháng 12 năm 2023, anh L cho C nghỉ việc và thanh toán đầy đủ lương cho C. Do bực tức vì bị nghỉ việc nên C nảy sinh ý định đầu độc đàn lợn đang được chăn nuôi tại khu vườn của anh L. Để thực hiện ý định trên, ngày 03 tháng 01 năm 2024, C đến gặp T (là cháu họ của C) và hỏi T cách đầu độc đàn lợn của L thì được T cho biết cách dùng bả chuột để đầu độc đàn lợn. Khoảng 15 giờ ngày 05 tháng 01 năm 2024, C mua 03 lọ thuốc diệt chuột tại cửa hàng của bà Đỗ Thị Tô, sinh năm 1954; ở thôn 2, xã Cao Nhân, huyện Thủy Nguyên rồi mang về nhà. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, C lấy cơm trộn cùng thuốc diệt chuột rồi gọi điện bảo T chở C đến khu vườn của anh L tại thôn 3, xã Cao Nhân để đầu độc đàn lợn, T đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô BKS 15G1-673.20 chở C cầm theo túi nilon chứa cơm trộn thuốc diệt chuột đến khu vực trên. Tại đây, T đứng ngoài cảnh giới, C đến sát bờ tường bao vườn nhà L rồi ném cơm đã trộn với thuốc diệt chuột vào bên trong khu vực vườn, chuồng nuôi lợn. Sau đó, C và T đi về. Ngày 06 tháng 01 năm 2024, Công an xã Cao Nhân, huyện Thủy Nguyên nhận được đơn trình báo của anh Hoàng Văn L về việc phát hiện 07 con lợn bị chết, không rõ nguyên nhân. Sau khi nhận được tin báo, Công an xã Cao Nhân đã báo cáo và phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thủy Nguyên và các cơ quan chuyên môn tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ mẫu phủ tạng để giám định và điều tra, xác minh theo quy định.

Ngày 08/01/2024, Phạm Văn C và Phạm Văn T đã đến cơ quan Công an đầu thú và khai nhận đã dùng chất độc để làm lợn của anh L chết và giao nộp 01 chiếc xe mô tô BKS 15G1-673.20.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà của Phạm Văn C thu giữ: Tại khu vực đổ rác nhà Phạm Văn C có 03 hộp nhựa tương tự nhau, đều hình trụ tròn màu trắng, dài 5,5cm, phần miệng ống có 01 đầu nhựa dài khoảng 1,3cm, đường kính miệng ống khoảng 0,5c, đường kính đáy 1,5cm. Trong cả 03 ống đều bám dính chất lỏng màu trắng dạng nước.

Bị hại anh Hoàng Văn L khai: Trước đây anh L có thuê C làm công việc chăn nuôi tại nườn nhà L, tháng 12 năm 2023 L cho C nghỉ việc và đã thanh toán đầy đủ tiền công cho C. Khoảng 7 giờ ngày 06 tháng 01 năm 2024, L ra vườn thì thấy có 07 con lợn bị sùi bọt mép có biểu hiện co giật, L đã sơ cứu nhưng 7 con lợn vẫn bị chết. L nghi ngờ có người đầu độc đàn lợn của L nên đã trình báo với công an. Trong quá trình điều tra, các bị cáo đã bồi thường cho anh L nên anh L không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại Kết luận giám định độc chất số 01/2024/KLGĐĐC-TTPYHP ngày 08/5/2024 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận: Tìm thấy hoạt chất thuốc diệt chuột là Fluoroacetat, Fluoroacetic trong các mẫu phủ tạng (dịch dạ dày) và máu của lợn bị chết. Tìm thấy hoạt chất thuốc diệt chuột là Fluoroacetat, Fluoroacetic trong chất lỏng bám dính trong 03 lọ nhựa màu trắng hình trụ tròn. Các mẫu vật gửi giám định đã được sử dụng hết trong quá trình giám định.

Tại Bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thủy Nguyên kết luận: 02 con lợn lông màu trắng và 05 con lợn lông màu đen tại thời điểm xảy ra sự việc có tổn giá trị là 23.290.000 đồng.

Lời khai của các bị cáo Phạm Văn C, Phạm Văn T phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng và kết luận định giá tài sản, kết luận giám định độc chất, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại Bản cáo trạng số 169/CT-VKSTN ngày 12 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, T phố Hải Phòng đã truy tố Phạm Văn C, Phạm Văn T về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo trong vụ án đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 65, Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Phạm Văn C mức án từ 12 đến 15 tháng nhưng cho hưởng án treo, áp dụng thời gian thử thách tương ứng.

Áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T mức án từ 09 đến 12 tháng nhưng cho hưởng án treo, áp dụng thời gian thử thách tương ứng.

Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đã giám định hết. Về dân sự: Bị hại đã được bồi thường đầy đủ, không có yêu cầu đề nghị gì khác. Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo đều trình bày nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm đã thực hiện, tỏ ra ăn năn, hôi cải và mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong quá trình tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, của người được giao thẩm quyền tiến hành tố tụng đối với vụ án trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo và những người khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh, định khung hình phạt: Ngày 05/01/2024, tại thôn 3, xã Cao Nhân, huyện Thủy Nguyên, các bị cáo Phạm Văn C, Phạm Văn T đã có hành vi dùng thuốc diệt chuột trộn với cơm nguội cho lợn của gia đình anh L ăn, hậu quả làm 07 con lợn bị chết, phải đem đi tiêu hủy. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 23.290.000 đồng. Như vậy, đủ căn cứ xác định các bị cáo Phạm Văn C, Phạm Văn T đã đồng phạm tội Hủy hoại tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Văn C, Phạm Văn T là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được Nhà nước bảo vệ, làm ảnh hưởng đến hoạt động chăn nuôi phát triển kinh tế gia đình của công dân.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Phạm Văn C, Phạm Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp lần đầu và ít nghiêm trọng. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo Phạm Văn C, Phạm Văn T đã đầu thú, tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; tại phiên toà và tại cơ quan điều tra, các bị cáo T khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về phân hóa vai trò và hình phạt: Đây là vụ án có đồng phạm nên cần phân hóa vai trò của từng bị cáo để làm cơ sở cho việc cá thể hóa trách nhiệm hình sự, lượng hình đối với từng bị cáo.

Trong vụ án này, bị cáo Phạm Văn C là người khởi xướng, đồng thời là người thực hành tích cực trong việc thực hiện hành vi hủy hoại tài sản của anh Hoàng Văn L, cụ thể: Bị cáo C là người khởi xướng, nảy sinh ý định đầu độc đàn lợn đang được chăn nuôi tại khu vườn của anh L, trực tiếp đi mua 03 lọ thuốc diệt chuột, lấy cơm trộn cùng với thuốc diệt chuột và trực tiếp ném cơm đã trộn với thuốc diệt chuột vào bên trong khu vực vườn, chuồng nuôi lợn. Bị cáo Phạm Văn T người tiếp nhận ý chí của C, đề xuất cách thức đầu độc đàn lợn, đồng thời trực tiếp đi cùng bị cáo C thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy hình phạt áp dụng cho bị cáo Phạm Văn C phải cao hơn hình phạt áp dụng đối với bị cáo Phạm Văn T.

Xét các bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự (nhân thân tốt), bị cáo có việc làm, là lao động chính trong gia đình, có nơi cư trú rõ ràng, Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu trên quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo mà không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên không cần thiết phải buộc bị cáo phải cách ly xã hội mà có thể áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời còn thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

[6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Về dân sự: Bị hại anh Hoàng Văn L không có yêu cầu, đề nghị bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô BKS 15G1-673.20, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Phạm Văn Vĩnh (là bố của T), không biết việc bị cáo T dùng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Vĩnh là đúng quy định của pháp luật.

[9] Về những vấn đề khác: Vụ án này không có dấu hiệu của việc bỏ lọt tội phạm hoặc hành vi phạm tội mới nên Hội đồng xét xử không phân tích chứng cứ để xem xét việc khởi tố vụ án hay yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các điều 17; 58, 65 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội “Hủy hoại tài sản”. Xử phạt Phạm Văn C 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Cao Nhân, huyện Thuỷ Nguyên, T phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các điều 17; 58, 65 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Hủy hoại tài sản”. Xử phạt Phạm Văn T 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Cao Nhân, huyện Thuỷ Nguyên, T phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:

Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người

được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.

Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc mỗi bị cáo Phạm Văn C, Phạm Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Phạm Văn C, Phạm Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - TAND T phố Hải Phòng;
  • - VKSND T phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Thủy Nguyên;
  • - Chi cục THADS huyện Thủy Nguyên;
  • - CQCSĐT Công an huyện Thủy Nguyên;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Sở Tư pháp T phố Hải Phòng;
  • - Phòng PV06, PC10;
  • - Lưu: VT; HCTP; Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 166/2024/HS-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, T PHỐ HẢI PHÒNG về hủy hoại tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 166/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hủy hoại tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, T PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tuyên bố bị cáo phạm tội huỷ hoại tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger