|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 166/2024/HS-ST Ngày: 05 - 7 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thúy Ái.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Vân;
2. Ông Thái Văn Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hằng-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 136/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 106/2024/HSST-QĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Trần Nhựt H, sinh năm: 1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: Ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B, sinh năm: 1967 và bà Mai Thanh T, sinh năm: 1979; bị cáo chưa có vợ; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ chuyển sang tạm giam từ ngày 22/12/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/ Họ và tên: Trịnh Yến N, sinh năm: 1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Ấp G, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Trịnh Thị D, sinh năm: 1967; bị cáo chồng tên Võ Văn P, sinh năm: 1995, có 01 con sinh năm 2017; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ chuyển sang tạm giam từ ngày 22/12/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 21/12/2023, Trần Nhựt H đến nhà Trịnh Yến N tại ấp G, xã A, huyện C chơi, đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày thì H và N cùng rủ nhau đến nhà trọ “Song Thủy” thuộc ấp G, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để thuê phòng trọ ngủ và sử dụng chất ma túy, khi đi H mang theo bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy cất giấu trong túi quần bên phải. Sau khi thuê phòng trọ số A3, H đưa cho N số tiền 50.000đ để hùn mua chất ma túy, N dùng điện thoại di động sử dụng mạng xã hội Zalo liên lạc với người thanh niên có tài khoản Zalo tên “Tình K N” hỏi mua chất ma túy đá với giá 100.000đ thì người thanh niên đồng ý và hẹn địa điểm giao nhận chất ma túy là trược nhà trọ “Song Thủy”. Khoảng 10 phút sau, người thanh niên điện thoại lại kêu N ra trước nhà nghỉ “Song T1”, N ra đến địa điểm đã hẹn gặp người thanh niên đưa cho N 01 gói thuốc lá hiệu JET trong có gói chất ma túy, N đưa cho người thanh niên số tiền 100.000đ. N lấy gói chất ma túy cất giấu, vứt gói thuốc lá hiệu JET rồi quay về phong trọ số A3 đưa gói chất ma túy cho H cất giấu. Đến 23 giờ 30 phút cùng ngày, Công an huyện C, huyện C kiểm tra phòng số A3 - nhà nghỉ “Song T1” thì phát hiện 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy đang để trên bàn, 01 gói chất ma túy cất giấu phía sau tấm gương trong nhà vệ sinh, Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Nhựt H và Trịnh Yến N. Thu giữ của H 01 gói nylon chứa hạt tinh thể không màu, 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy, 01 điện thoại di động hiệu Oppo, thu giữ của N 01 điện thoại di động hiệu Oppo.
Tại Bản kết luận giám định số 319/KLGĐ-MT ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Trần Nhựt H và hình dấu Công an xã A, huyện C là ma túy ở thể rắn, có khổi lượng 0,2594gram, loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 136/CT-VKS-CC ngày 07/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố các bị can Trần Nhựt H, Trịnh Yến N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Đ c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Nhựt H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai rằng: Bị cáo và bị cáo N quen biết nhau từ tháng 6/2023 và có tình cảm với nhau. Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 21/12/2023, bị cáo đến nhà của bị cáo N tại ấp G, xã A, huyện C chơi, đến khoảng 23 giờ 00 phút bị cáo cùng bị cáo N rủ nhau đến nhà trọ “Song Thủy” thuê phòng để ngủ và sử dụng ma túy thì cả hai cùng đồng ý, bị cáo bỏ bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy vào túi quần rồi cùng bị cáo T1 đi bộ đến nhà trọ “Song Thủy” để thuê phòng. Sau khi thuê phòng số A3, bị cáo đưa cho bị cáo N số tiền 50.000đ để hùn mua chất ma túy sử dụng, bị cáo thấy bị cáo N điện thoại cho người nào đó bị cáo không biết, khoảng 10 phút sau thì bị cáo T1 đi ra ngoài được 05 phút thì quay lại phòng trọ số A3 đưa cho bị cáo 01 gói nylon chứa chất ma túy, bị cáo đem gói chất ma túy cất giấu phía sau tấm gương trong nhà vệ sinh, còn bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy thì bị cáo để trên bàn. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, Công an đến kiểm tra phòng trọ số A3 thì phát hiện 01 gói chất ma túy nên lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ của bị cáo gồm: 01 gói chất ma túy, 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy, 01 điện thoại di động hiệu Oppo. Điện thoại di động cảu bị cáo dùng để liên lạc với gia đình và bạn bè, nay bị cáo xin nhận lại chiếc điện thoại để sử dụng.
Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Yến N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai rằng: Bị cáo và bị cáo H quen biết nhau từ tháng 6/2023 và có tình cảm với nhau. Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 21/12/2023, bị cáo H đến nhà của bị cáo tại ấp G, xã A, huyện C chơi, đến khoảng 23 giờ 00 phút cả hai rủ nhau đến nhà trọ “Song Thủy” thuê phòng để ngủ và sử dụng ma túy, bị cáo và bị cáo T1 đi bộ đến nhà trọ “Song Thủy” để thuê phòng. Sau khi thuê phòng số A3, bị cáo H đưa cho bị cáo 50.000đ để hùn mua chất ma túy sử dụng, bị cáo dùng điện thoại di động liên lạc với người thanh niên qua mạng xã hội Zalo co tên tài khoản “Tình K Ngoan” hỏi mua 01 gói chất ma túy với giá 100.000đ và hẹn địa điểm giao nhận là trước nhà trọ “Song Thủy”, khoảng 10 phút sau thì người thanh niên điện thoại lại cho bị cáo kêu xuống lấy hàng, bị cáo xuống trước nhà trọ “Song Thủy” gặp người thanh niên đưa cho bị cáo 01 gói thuốc là hiệu JET có chứa gói chất ma túy, bị cáo đưa cho người thanh niên 100.000đ, bị cáo mở gói thuốc lá hiệu JET lấy 01 gói chất ma túy cất giấu, vứt gói thuốc lá hiệu JET rồi quay lên phòng số A3 đưa gói nylon chứa chất ma túy cho bị cáo H. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, Công an đến kiểm tra phòng trọ số A3 thì phát hiện 01 gói chất ma túy nên lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ của bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Oppo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Nhựt H mức án từ 01 (Một) năm tù đến 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù.
- - Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trịnh Yến N mức án từ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù đến 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù.
- - Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Điều 35 và Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Về vật chứng vụ án: Áp dụng Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu được niêm phong trong một gói mang số vụ 140/24 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Điều tra viên và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
- + Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo, số imeil: 864267044833457, số imei2: 864267044833440.
- + Trả lại cho bị cáo Trần Nhựt H: 01 điện thoại di động hiệu Oppo, số imei1:866617033818471, số imei2: 866617033818463.
Bị cáo Trần Nhựt H, Trịnh Yến N không tranh luận, không tự bào chữa.
Bị cáo Trần Nhựt H nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của bị cáo đã gây ra, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình.
Bị cáo Trịnh Yến N nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của bị cáo đã gây ra, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh; điều luật áp dụng; tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Bị cáo Trần Nhựt H và Trinh Yến N1 có hành vi tàng trữ 01 gói nylon là chất ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2594 gram, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố các bị cá Trần Nhựt H và Trịnh Yến N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, với phương thức đi mua chất ma túy về cất giấu để sử dụng. Hành vi này chẳng những đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về trật tự quản lý hành chính, lĩnh vực quản lý dược liệu, dược phẩm độc hại mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt của mọi người. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo nhận thức rõ rằng chất ma túy là mặt hàng Nhà nước cấm tàng trữ, việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là phạm pháp, là tiếp tay cho các phần tử xấu gây nguy hại cho xã hội, thế nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên đi đến hành động phạm tội nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý các bị cáo bằng một hình phạt là cần thiết.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Không có.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tại cơ quan Cảnh sát điều tra cũng như tại phiên tòa, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, xét tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo phần nào về hình phạt là có căn cứ. Trong vụ án, bị cáo N là người trực tiếp mua ma túy để cùng bị cáo H sử dụng nên Hội đồng xét xử xét xử phạt bị cáo N mức án cao hơn bị cáo H là phù hợp.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại Điều 35 và Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.
[6] Về vật chứng vụ án:
- - 01 (Một) gói niêm phong mang số vụ 140/24 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Điều tra viên là đối tượng phạm tội, Hội đồng xét xử xét tịch thu tiêu hủy;
- - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy là công cụ dùng sử dụng trái phép chất ma túy, Hội đồng xét xử xét tịch thu tiêu hủy.
- - 01 điện thoại di động hiệu OPPO, có số imeil: 864267044833457, số imei2: 864267044833440 là tài sản của bị cáo N dùng vào việc phạm tội, Hội đồng xét xử xét tịch thu nộp ngân sách Nhà nước;
- - 01 điện thoại di động hiệu OPPO, có số imeil: 866617033818471, số imei2: 866617033818463 là tài sản của bị cáo H không liên quan đến việc phạm tội. Tại phiên tòa bị cáo H xin nhận lại để sử dụng, Hội đồng xét xử xét yêu cầu của bị cáo H là có căn cứ nên chấp nhận.
[7] Về các vấn đề khác:
Trong vụ án này, theo bị cáo N khai còn có 01 người thanh niên Đoàn Văn T2, sinh năm: 2000 ngụ tại ấp G, xã A, huyện C là người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo, T2 không thừa nhận bán trái phép chất ma túy cho bị cáo N, ngoài lời khai của bị cáo N ra không có tài liệu nào chứng minh T2 bán trái phép chất ma túy cho bị cáo N nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xử lý, Hội đồng xét xử xét các xử lý trên là phù hợp nên không xét.
[8] Về nghĩa vụ chịu án phí:
Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Nhựt H và bị cáo Trịnh Yến N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Nhựt H 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2023.
2. Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trịnh Yến N 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2023.
3. Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) gói niêm phong mang số vụ 140/24 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Điều tra viên và 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy;
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động hiệu OPPO có số Imeil: 864267044833457, số I: 864267044833440;
- - Trả lại cho bị cáo Trần Nhựt H 01 (Một) điện thoại di động hiệu OPPO có số Imeil: 86617033818471, số I: 86617033818463.
(Các vật chứng nêu trên được liệt kê tại Lệnh nhập kho vật chứng số 343/LNK-ĐCSMT ngày 18/3/2024 và Phiếu nhập kho vật chứng số 84/PNK ngày 25/3/2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an huyện C).
4. Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015, Đ a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Án phí hình sự sơ thẩm buộc các bị cáo Trần Nhựt H và Trịnh Yến N mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng)..
5. Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Thúy Ái |
Bản án số 166/2024/HS-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 166/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
