Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 166/2025/HSST

Ngày: 27 - 06 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Bà Nguyễn Thị Thu Thảo;
  • - Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh.

Thư ký phiên tòa: ông Lê Trung Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: ông Nguyễn Xuân Nhẫm - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, TP. xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 157/2025/HSST ngày 29 tháng 05 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 190/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 06 năm 2025, đối với bị cáo:

Lê Thanh H; sinh năm 1990, tại: Lâm Đồng; Nơi đăng ký NKTT: 128 N, tổ E, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; chổ ở hiện nay: Không nơi cư trú rõ ràng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Danh H1, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Như H2, sinh năm 1968; Vợ: Nguyễn Thị Mộng T, sinh năm 1988; con: 01 người sinh năm 2018.

- Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam: ngày 07/03/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (Phân trại tạm giam khu vực T) Công an T4 và có mặt tại phiên tòa.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Thanh H: Luật sư Nguyễn Xuân H3, Luật sư Vũ Anh T1 – Văn phòng Luật sư Huỳnh Thanh T2 thuộc Đoàn Luật sư T5 (Có mặt).

Người bị hại: anh Trần Hoàng S, sinh năm 1977; trú tại: 4 L, phường P, quận T, TP. (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH B1; địa chỉ: Tòa nhà M, số B T, quận Đ, TP.. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nikhil V – Tổng giám đốc (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 02 năm 2018, Lê Thanh H xin làm nhân viên hợp đồng cho Công ty B1, có trụ sở tại quận Đ, Hà Nội, đến tháng 6 năm 2018 thì H bị Công ty B1 cho nghỉ việc.

Ngày 20 tháng 11 năm 2018, anh Trần Hoàng S đến Ngân hàng C (V1), chi nhánh số G đường H, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để làm thủ tục đáo hạn khoản vay mà anh S đã vay của ngân hàng. Tại đây, thông qua nhân viên ngân hàng tên Lê Thanh B tư vấn về việc V1 có liên kết với Công ty B1 có nhiều chế độ ưu đãi cho khách vay của ngân hàng khi mua gói bảo hiểm nhân thọ của Công ty B1. Nghe vậy, anh S đồng ý nên B đã giới thiệu Lê Thanh H là nhân viên của Công ty B1 (lúc này H giới thiệu tên là Đinh Hữu N). H đã tư vấn và anh S đồng ý mua 04 gói bảo hiểm nhân thọ cho gia đình, gồm (anh S, vợ và 02 con).

Ngày 21 tháng 11 năm 2018, H đem hợp đồng bảo hiểm đến nhà anh S tại số D L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để ký kết. Nội dung hợp đồng thỏa thuận mua gói bảo hiểm 43 năm nhưng chỉ đóng tiền trong vòng 10 năm với phí bảo hiểm của 04 hợp đồng là 60.000.000 đồng/năm. Công ty B1 đã phát hành 04 hợp đồng bảo hiểm cho 04 người được bảo hiểm là Trần Hoàng S, Ngô Thị Ngọc T3, Trần Hoàng Gia H4 và Trần Hoàng Gia K (vợ và con anh S). Sau đó, H vẫn lấy tên là Đinh Hữu N đã đến nhà anh S vào các năm 2019; 2020; 2021; 2022 thu tổng số tiền là 240.000.000 đồng (có biên lai thu tiền của V1), sau khi thu H đến V1 nộp số tiền trên vào tài khoản của Công ty B1.

Đến giữa năm 2022, lợi dụng thời điểm Công ty B1 được bán lại cho Công ty B2 và đổi tên thành Công ty TNHH B3. Do cần tiền tiêu xài, nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền phí đóng bảo hiểm của anh S cụ thể: Tháng 12 năm 2022, H thu của anh S 30.000.000 đồng, tháng 12 năm 2023, H thu của anh S 60.000.000 đồng, nhưng H không nộp cho Công ty B3 mà sử dụng để tiêu xài cá nhân. Do thấy anh S không đóng tiền, nên Công ty B3 đã thông báo cho anh S sẽ ngưng thực hiện hợp đồng. Biết bị H lừa, nên ngày 03 tháng 3 năm 2025, anh S hẹn gặp H tại địa chỉ số E L, phường P, quận T để đóng tiếp 60.000.000 đồng tiền phí bảo hiểm, do H vẫn tiếp tục muốn chiếm đoạt tiền của anh S, nên đã đến nhận tiền. Lần này, H vẫn lấy tên là Đinh Hữu N. Lúc 16 giờ 45 phút cùng ngày, khi H nhận đủ tiền, đã viết giấy nộp tiền 60.000.000 đồng cho anh S thì bị Công an phường P bắt quả tang. Tại trụ sở Công an phường anh S mới biết Đinh Hữu N có tên thật là Lê Thanh H.

Kết quả xác minh Đinh Hữu N khai, khoảng năm 2018 N có ở chung phòng trọ với Lê Thanh H tại nhà số A đường L, Phường F, quận T. Trong thời gian ở cùng, H có hỏi mượn N Chứng minh nhân dân và 01 bằng tốt nghiệp đại học mang tên Đinh Hữu N để đi xin việc. N không biết H sử dụng để lừa đảo và không nhận lợi ích vật chất gì từ H.

Kết quả xác minh Lê Thanh B nhân viên tư vấn V1 khai. B không biết việc H lấy tên Đinh Hữu N xin vào làm việc ở Công ty B1.

Đối với con dấu hình chữ nhật ghi: Đã thu tiền, Hoài đóng trên các giấy nộp tiền của V2, H khai tự đặt khắc và đóng sẵn trên các giấy nộp tiền H lấy từ phòng giao dịch của V2 từ trước. Sau khi đóng xong, H đã vứt bỏ.

Vật chứng thu giữ:

  • - 60.000.000 đồng (120 tờ mệnh giá 500.000 đồng). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố T4 đã ra Quyết định trả lại cho anh S.
  • - 01 giấy nộp tiền của V2 60.000.000 đồng, người nộp tiền Trần Hoàng S, giao dịch viên tên Đinh Hữu N.
  • - 01 giấy nộp tiền của V2 người nộp tiền Trần Hoàng S, giao dịch viên có chữ ký, nhưng không có họ tên, đóng dấu ngân hàng đã thu tiền.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Relme C51 (Imei: 863320061309314).
  • - 01 USB, 01 đĩa DVD (ghi hình có âm thanh hỏi cung bị can và hình ảnh bị can nhận tiền của anh S).

Về phần dân sự: Anh Trần Hoàng S yêu cầu Lê Thanh H phải trả lại số tiền H đã chiếm đoạt là 150.000.000 đồng và đền bù thiệt hại đối với 04 hợp đồng đã bị mất hiệu lực là 240.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số: 170/CT-VKSQ.TP ngày 28 tháng 05 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP. đã truy tố bị cáo Lê Thanh H về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên Tòa:

  • - Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP. giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
  • Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b,s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Lê Thanh H từ 05 năm đến 06 năm tù.
  • Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề cập xử lý phần dân sự và vật chứng.
  • - Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Thanh H trình bày: thống nhất về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát truy tố. Do hoàn cảnh kinh tế gặp nhiều khó khăn trong thời gian dịch bệnh và nuôi con nhỏ, nên bị cáo mới bộc phát thực hiện hành vi phạm tội chiếm đoạt tiền của người bị hại. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại để khắc phục hậu quả. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án dưới khung bị truy tố.
  • - Bị cáo Lê Thanh H đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lê Thanh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ để xác định: Lê Thanh H đã có hành vi gian dối, sử dụng tên giả là Đinh Hữu N, giả là nhân viên của Công ty B1 để tư vấn tạo sự tin tưởng cho anh Trần Hoàng S mua 04 hợp đồng bảo hiểm. Sau khi thu tiền của anh S, H không nộp về Công ty bảo hiểm mà chiếm đoạt để tiêu xài cá nhân 03 lần vào tháng 12/2022 là 30.000.000 đồng, tháng 12/2023 là 60.000.000 đồng và ngày 03/3/2025 là 60.000.000 đồng. Tổng số tiền H chiếm đoạt của anh S là 150.000.000 đồng.

Hành vi nêu trên của Lê Thanh H đã phạm vào tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thuộc trường hợp: “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số: 170/CT-VKSQ.TP ngày 28 tháng 05 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP. đã truy tố bị cáo Lê Thanh H về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần thiết xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ và hậu quả do bị cáo gây ra để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo có tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo tác động gia đình bồi thường số tiền 20.000.000 đồng để khắc phục một phần hậu quả. Các tình tiết giảm nhẹ nêu trên được quy định tại điểm b,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự: anh Trần Hoàng S yêu cầu Lê Thanh H bồi thường số tiền chiếm đoạt: 150.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả cho anh S số tiền: 60.000.000 đồng; gia đình bị cáo đã nộp 20.000.000 đồng tiền khắc phục hậu quả. Còn lại số tiền: 70.000.000 đồng bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh S. Đối với tiền bồi thường thiệt hại đối với 04 Hợp đồng bảo hiểm là 240.000.000 đồng. Bị cáo không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của người bị hại. Viện kiểm sát và luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tách ra bằng vụ kiện dân sự khác. Bởi lẽ, nếu có tranh chấp về 04 Hợp đồng bảo hiểm được ký kết giữa Công ty TNHH B1 và anh Trần Hoàng S thì sẽ các bên sẽ khởi kiện bằng vụ kiện dân sự độc lập khi các bên có yêu cầu. Xét lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát và Luật sư bào chữa cho bị cáo là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với số tiền 60.000.000 đồng (120 tờ mệnh giá 500.000 đồng). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố T4 đã ra Quyết định trả lại cho anh S là phù hợp.
  • Đối với 01 giấy nộp tiền của V2 60.000.000 đồng, người nộp tiền Trần Hoàng S, giao dịch viên tên Đinh Hữu N. Lưu hồ sơ vụ án.
  • Đối với 01 giấy nộp tiền của V2 người nộp tiền Trần Hoàng S, giao dịch viên có chữ ký, nhưng không có họ tên, đóng dấu ngân hàng đã thu tiền. Lưu hồ sơ vụ án.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Relme C51 (Imei: 863320061309314). Bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • Đối với 01 USB, 01 đĩa DVD (ghi hình có âm thanh hỏi cung bị can và hình ảnh bị can nhận tiền của anh S). Lưu hồ sơ vụ án.

[8] Án phí: Bị cáo phải nộp án phí 200.000 đồng hình sự sơ thẩm và 19.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b,s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[2] Xử phạt: bị cáo Lê Thanh H 05 (Năm) năm tù về tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam: ngày 07/03/2025.

[3] Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự.

Buộc bị cáo Lê Thanh H phải có trách nhiệm bồi thường cho chị anh Trần Hoàng S số tiền: 70.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền. Hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Tách phần yêu cầu bồi thường thiệt hại của anh Trần Hoàng S đối với 04 Hợp đồng bảo hiểm là: 240.000.000 đồng giải quyết bằng vụ kiện dân sự độc lập khi các bên có yêu cầu.

[4] Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • Lưu hồ sơ vụ án: 01 giấy nộp tiền của V2 60.000.000 đồng, người nộp tiền Trần Hoàng S, giao dịch viên tên Đinh Hữu N; 01 giấy nộp tiền của V2 người nộp tiền Trần Hoàng S, giao dịch viên có chữ ký, nhưng không có họ tên, đóng dấu ngân hàng đã thu tiền; 01 USB, 01 đĩa DVD (ghi hình có âm thanh hỏi cung bị can và hình ảnh bị can nhận tiền của anh S).
  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Relme C51 (Imei: 863320061309314) theo phiếu nhập kho vật chứng số 188/PNK ngày 22/05/2025.
  • Trả cho người bị hại anh Trần Hoàng S số tiền 20.000.000 đồng gia đình bị cáo nộp theo biên lai thu số 0000056 ngày 26/06/2025 của Cục T6.

[5] Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Lê Thanh H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 19.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Thanh H có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Q.Tân Phú;
  • - THADS quận Tân Phú;
  • - CATP. HCM;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Đức Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 166/2025/HSST ngày 27/06/2025 của Tòa án nhân dân Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 166/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger