Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 166/2025/HS-ST

Ngày 16 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Chí Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đoàn Thị Liễu

Bà Chung Kim Sang

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Ông Tiêu Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 128/2025/TLST-HS ngày 25/4/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2025/QĐXXST-HS ngày 30/5/2025 đối với bị cáo:

Trần Thị H, sinh ngày 04/05/1987 tại tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: Tổ F, khu phố P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ văn hoá (học vấn): không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn V (đã chết) và bà Nguyễn Thị H1 (đã chết); có chồng Phan Ngọc L; con có 02 người lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016.

* Tiền án, tiền sự: Không

- Ngày 10/02/2025, bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R khởi tố vụ án, khởi tố bị can, cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại Tổ F, khu phố P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Bị hại: Bà Trần Chúc K, sinh năm 2003 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Minh Tuấn C, sinh năm 2001 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: F N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

- Ông Phan Ngọc L, sinh năm 1983 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ F, khu phố P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

- Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1985 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Số C đường N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 50 phút, ngày 17/12/2024 Trần Thị H, sinh năm 1987, địa chỉ cư trú: Tổ F, khu phố P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang, điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave màu trắng đỏ, biển số 68M6 - 2408, từ nhà để đi chợ nhưng trong người không đủ tiền nên H nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của người khác, H chạy xe ngang cửa hàng quần áo “VIE”, số A N, phường A, thành phố R thì H nảy sinh ý định đi vào bên trong cửa hàng này để lấy trộm điện thoại. H đậu xe bên ngoài, rồi đi vào trong cửa hàng, H nhìn thấy trên ghế gần nơi trưng bày quần áo có để đồ dùng của bà Trần Chúc K, sinh năm 2003, địa chỉ cư trú: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang, trong đó có một điện thoại di động, hiệu IPhone 13 màu xanh dương (có ốp lưng màu đen). Hoài quan sát xung quanh thấy không có ai trông coi tài sản, H giả vờ lựa chọn quần áo rồi lén lấy điện thoại trên bỏ vào túi quần, rồi đi ra bên ngoài chạy xe về nhà và mang điện thoại trên cầm cho ông Nguyễn Minh Tuấn C, sinh năm 2001, địa chỉ cư trú: F N, phường V, thành phố R với số tiền 3.000.000 đồng, H đã tiêu xài cá nhân hết.

* Việc thu giữ tài liệu, đồ vật:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu IPhone 13, màu xanh dương, dung lượng 128Gb, IMEI: 355317930665715, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) ốp lưng dành cho điện thoại hiệu IPhone 13, được làm bằng nhựa, màu đen, có dán chữ “Baby”, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave màu trắng đỏ, biển số 68M6-2408, số máy JC43E5592848, số khung 4329A Y132709, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) đĩa CD bên trong có dữ liệu ghi nhận vụ trộm cắp tài sản, tại cửa hàng quần áo “VIE”, số A N, phường A, thành phố R sau: Video của Camera ghi nhận thời gian từ 12 giờ 54 phút 00 giây đến 12 giờ 55 phút 52 giây, ngày 17/12/2024 (đã được thu thập vào hồ sơ vụ án).

* Tại Kết luận định giá tài sản số 165 ngày 30/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố R, kết luận:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu IPhone 13, màu xanh dương, dung lượng 128Gb, IMEI: 355317930665715, đã qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 17/12/2024 có giá trị là 9.667.000 đồng.
  • 01 (một) ốp lưng dành cho điện thoại hiệu IPhone 13, được làm bằng nhựa, màu đen, có dán chữ “Baby”, đã qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 17/12/2024 không xác định được giá trị do không đủ thông tin, (bút lục số 7).

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Trần Chúc K đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số 161/CT-VKS ngày 25/4/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Trần Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

  • Bị hại Trần Chúc K xác định đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • Bị cáo Trần Thị H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thống nhất với Kết luận định giá tài sản, không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
  • Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:
    • + Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị H mức án 18 đến 24 tháng tù, cho hưởng án treo.
    • + Hình phạt bổ sung: Không đề nghị do bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định.
    • + Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không có yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
    • + Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị ghi nhận:
      • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R đã trao trả cho bị hại Trần Chúc K 01 (một) Điện thoại di động, nhãn hiệu IPhone 13, màu xanh dương, dung lượng 128Gb, IMEI: 355317930665715, đã qua sử dụng và 01 (một) ốp lưng dành cho điện thoại hiệu IPhone 13, được làm bằng nhựa, màu đen, có dán chữ “Baby”, đã qua sử dụng.
      • - Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave màu trắng đỏ, biển số 68M6-2408, số máy JC43E5592848, số khung 4329A Y132709, đã qua sử dụng. Bị cáo Trần Thị H sử dụng xe trên thực hiện hành vi phạm tội, qua xác minh chủ sở hữu là ông Phan Ngọc L mua nhưng chưa sang tên, ông L không biết H sử dụng xe trên thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R đã trao trả lại cho ông Phan Ngọc L.

Theo Quyết định xử lý vật chứng số 460/QĐ-ĐTTH ngày 10/02/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R.

Tại lời nói sau cùng bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhận thức được hành vi của bị cáo là sai trái, mong được xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm có cơ hội làm ăn lương thiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố R, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Trần Thị H đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đúng với nội dung Bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Cụ thể: Do cần tiền tiêu xài cá nhân, vào khoảng 12 giờ 50 phút, ngày 17/12/2024 Trần Thị H điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave màu trắng đỏ, biển số 68M6 - 2408 từ nhà đến cửa hàng quần áo "VIE", số A N, phường A, thành phố R, tại đây H đã thực hiện hành vi phạm tội, lấy trộm 01 điện thoại di động, hiệu IPhone 13 màu xanh dương (có ốp lưng màu đen) của bà Trần Chúc K. Sau đó, H chạy xe về nhà và mang điện thoại trên cầm cho ông Nguyễn Minh T1 C với số tiền 3.000.000 đồng, H đã tiêu xài cá nhân hết. Qua định giá tài sản có giá trị là 9.667.000 đồng.

Xét thấy lời khai nhận của bị cáo về hành vi và các tình tiết của vụ án phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo với tội danh và Điều luật viện dẫn nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được tài sản hợp pháp của người khác là bất khả xâm phạm, được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều bị nghiêm trị; nhưng vì lười lao động chân chính, muốn có tiền nhanh chóng để tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã lợi dụng sơ hở, thiếu cảnh giác của chủ sở hữu, lén lút thực hiện hành vi trộm cắp nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân mà còn gây mất an ninh xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả bị cáo đã gây ra, để giáo dục, cải tạo bị cáo và đảm bảo được tính phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Thị H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, sau khi phạm tội bị cáo tự nguyện trả lại tiền cầm điện thoại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên có căn cứ cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích trên, xét thấy các bị cáo Trần Thị H phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng và ổn định, có khả năng tự cải tạo, đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/04/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tính răn đe đối với bị cáo. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên cần được chấp nhận.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Chúc K đã nhận lại tài sản mất trộm, không có yêu cầu gì khác đối với bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh Tuấn C đã nhận lại số tiền 3.000.000 đồng cầm điện thoại, không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R đã trao trả cho bị hại Trần Chúc K 01 (một) Điện thoại di động, nhãn hiệu IPhone 13, màu xanh dương, dung lượng 128Gb, IMEI: 355317930665715, đã qua sử dụng và 01 (một) ốp lưng dành cho điện thoại hiệu IPhone 13, được làm bằng nhựa, màu đen, có dán chữ "Baby", đã qua sử dụng.
  • Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave màu trắng đỏ, biển số 68M6-2408, số máy JC43E5592848, số khung 4329A Y132709, đã qua sử dụng. Bị cáo Trần Thị H sử dụng xe trên thực hiện hành vi phạm tội, qua xác minh xe là ông Phan Ngọc L mua nhưng chưa sang tên, ông L không biết H sử dụng xe trên thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R đã trao trả lại cho ông Phan Ngọc L.

Theo Quyết định xử lý vật chứng số 460/QĐ-ĐTTH ngày 10/02/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R.

Xét thấy việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, không có ai khiếu nại về việc xử lý vật chứng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về các vấn đề khác trong vụ án: Đối với ông Nguyễn Minh Tuấn C khi cầm điện thoại của bị can Trần Thị H, ông C không biết là điện thoại do trộm cắp mà có nên không cấu thành tội phạm.

[9] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự;

    Tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Trần Thị H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo.

    Thời gian thử thách là 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 16/6/2025.

    Giao bị cáo Trần Thị H về Ủy ban nhân dân phường nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Trần Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
  3. Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND Tp. Rạch Giá;
  • - Chi cục THA dân sự Tp. Rạch Giá;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

BÙI CHÍ LINH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 166/2025/HS-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 166/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger