Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 166/2025/HS-ST

Ngày: 07-11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tô Đông Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Khưu Hán Quang
  2. Ông Phan Văn Hòa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dương – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ngon - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 149/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 224/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. 1. Huỳnh Nguyệt M; sinh năm 1964; giới tính: Nữ; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: A L, phường H (Phường E, Quận A cũ), Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa, tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; con ông Huỳnh Thiếu T và bà Pho M1; hoàn cảnh gia đình không có chồng và có 02 con lớn sinh năm 1987, nhỏ sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 11/02/2025 (có mặt).
  2. 2. Đinh Thị Thu C; sinh năm: 1970; giới tính: Nữ; tại: tỉnh Vĩnh Long; hộ khẩu thường trú: A T, phường M (Phường D, Quận A cũ), Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh, tôn giáo: không; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 8/12; con ông Đinh Văn C1 và bà Phạm Thị Q; hoàn cảnh gia đình: có chồng tên Huỳnh Hán M2 và có 01 người con sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 11/02/2025 (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Minh T1, sinh năm 1968, trú tại: B Đ, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 35 phút ngày 18/12/2024, Đ Công an Q1 phối hợp Công an P, Quận A tiến hành kiểm tra hành chính nhà số A T, phường M (Phường D, Quận A cũ), Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Đinh Thị Thu C có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số đề cùng với Huỳnh Nguyệt M. Sau đó, vụ việc chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ:

  • 2.790.000 đồng của C, Cơ quan điều tra nộp Kho bạc nhà nước;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu xanh của Đinh Thị Thu C sử dụng để “Đánh bạc”;
  • 05 tờ phơi đề của C;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M21 màu xanh của bà Lê Thị Minh T1 dùng để đánh bạc.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng của Huỳnh Nguyệt M sử dụng để “Đánh bạc”.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Đinh Thị Thu C, Huỳnh Nguyệt M khai nhận: Cúc bán nước giải khát tại nhà A T, phường M, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình buôn bán, M (khách thường đến uống cà phê) kêu C ghi số đề cho khách rồi giao lại cho M để hưởng hoa hồng 05% trên số tiền bán số đề, C đồng ý. Từ giữa tháng 8/2024, C ở nhà và bán cà phê, ai muốn mua số đề thì nhắn tin cho C qua số điện thoại 0931.846.xxx, qua ứng dụng Viber, M3, Z hoặc gặp C trực tiếp để mua số đề. Khách mua số đề được giảm 20% trên số tiền mua số đề. Tỷ lệ trúng thưởng M giao cho C như sau: ghi 02 con số tỷ lệ 01 thắng 75 lần, 03 con số tỷ lệ 01 thắng 650 lần; 04 con số tỷ lệ 01 thắng 5500 lần, số đá 02 con tỷ lệ 01 thắng 550 lần; C thỏa thuận tỷ lệ trả thưởng với khách mua số đề như sau: ghi 02 con số tỷ lệ 01 thắng 72 lần, 03 con số tỷ lệ 01 thắng 620 lần; 04 con số tỷ lệ 01 thắng 5.200 lần, số đá 02 con tỷ lệ 01 thắng 520 lần. Kết quả trúng thưởng dựa trên kết quả của xổ số đài miền N, miền T, Hà Nội. Hàng ngày, sau khi có kết quả xổ số, C tính tiền mua bán số đề và tiền thắng, thua rồi gửi tin nhắn Mi biết, qua ngày hôm sau M đến gặp C để thanh toán tiền thắng thua, đối với người mua số đề của C xác định được 02 người là Nguyễn Thị Ngọc H và Lê Thị Minh T1 và những khách đến uống cà phê (không rõ lai lịch) việc thanh toán tiền mua bán số đề tại nơi C bán cà phê. Qua điều tra xác định C, M đánh bạc với nhau, cụ thể:

Ngày 16/12/2024, C nhắn tin cho M mua bán số đề của xổ số đài Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp với số tiền 4.540.000 đồng (trong đó, tiền mua số đề là 3.240.000 đồng, kết quả trúng thưởng 1.300.000 đồng); của xổ số đài Miền B với số tiền 6.004.000 đồng (trong đó, tiền mua số là 4.054.000 đồng, kết quả trúng thưởng 1.950.000 đồng). Tổng số tiền đánh bạc giữa C với Mi của ngày 16/12/2024 với số tiền 10.544.000 đồng.

Ngày 17/12/2024, C nhắn tin cho M mua bán số đề của xổ số đài Bến Tre, Vũng Tàu với số tiền 14.042.000 đồng (trong đó, tiền mua số đề là 8.592.000 đồng, kết quả trúng thưởng 5.450.000 đồng); của xổ số đài Miền B với số tiền 3.526.000 đồng (trong đó, tiền mua số là 2.876.000 đồng, kết quả trúng thưởng 650.000 đồng). Tổng số tiền đánh bạc giữa C với Mi của ngày 17/12/2024 với số tiền 17.568.000 đồng.

Ngoài ra, bị can C và M còn khai nhận trong ngày 18/12/2024 đánh bạc với số tiền 3.404.800 đồng.

Bản cáo trạng số 121/CT-VKS-KV3 ngày 23 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Huỳnh Nguyệt M và Đinh Thị Thu C về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, các bị cáo M và C có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội, đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Nguyệt M từ 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng đến 45.000.000 (bốn mươi lăm triệu) đồng và đề nghị xử phạt bị cáo Đinh Thị Thu C từ 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng đến 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng. Do đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo;

Về phần xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự:

  • Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 2.790.000 đồng của C liên quan đến đánh bạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu xanh của Đinh Thị Thu C sử dụng để “Đánh bạc”; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M21 màu xanh của bà Lê Thị Minh T1 dùng để đánh bạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng của Huỳnh Nguyệt M sử dụng để “Đánh bạc
  • Lưu hồ sơ vụ án 05 tờ phơi đề của C.
  • Buộc bị cáo Huỳnh Nguyệt M nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 14.071.500 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.
  • Buộc bị cáo Đinh Thị Thu C nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 1.823.900 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tung:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về trách nhiệm hình sự của các bị cáo trong vụ án:

Tại phiên tòa hôm nay, qua phần xét hỏi và tranh tụng công khai các bị cáo Huỳnh Nguyệt M và Đinh Thị Thu C đã thừa nhận hành vi đánh bạc với nhau. Lời nhận tội của các bị cáo nêu trên phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an Thành phố H, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Thành phố Hồ Chí Minh và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập tại hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Huỳnh Nguyệt M và Đinh Thị Thu C phạm tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

[3] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng, tạo ra một dư luận xấu trong nhân dân và góp phần cho các tội phạm khác phát sinh như trộm cắp, cướp giật, gây rối trật tự công cộng. Các bị cáo là những người có đầy đủ năng lực hành vi, mặc dù nhận thức được hành vi của mình bị pháp luật ngăn cấm nhưng vẫn ngang nhiên thực hiện bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo Huỳnh Nguyệt M và Đinh Thị Thu C phạm tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, cần thiết phải có mức hình phạt thật tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm tạo điều kiện cho các bị cáo phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này, biết tôn trọng pháp luật, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Đối với các bị cáo Huỳnh Nguyệt M và Đinh Thị Thu C “phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, các bị cáo Huỳnh Nguyệt M và Đinh Thị Thu C thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, các lần phạm tội đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Huỳnh Nguyệt M và Đinh Thị Thu C có địa chỉ rõ ràng, trong thời gian tại ngoại các bị cáo đã chấp hành tốt lệnh triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng, các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 điều 51 và có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo hiện đang kinh doanh buôn bán, có nguồn thu nhập hợp pháp, đủ khả năng tài chính để đảm bảo thi hành án, nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục đối với các bị cáo, đồng thời cũng có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

+Tiền, vật dùng liên quan việc đánh bạc thì tịch thu sung Ngân sách Nhà nước; cụ thể như sau:

  • 2.790.000 đồng của C, Cơ quan điều tra nộp Kho bạc nhà nước;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu xanh của Đinh Thị Thu C sử dụng để “Đánh bạc”;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M21 màu xanh của bà Lê Thị Minh T1 dùng để đánh bạc.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng của Huỳnh Nguyệt M sử dụng để “Đánh bạc”.
  • Lưu hồ sơ vụ án 05 tờ phơi đề của C.
  • Buộc bị cáo Huỳnh Nguyệt M nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 14.071.500 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.
  • Buộc bị cáo Đinh Thị Thu C nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 1.823.900 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, do phạt tiền là hình phạt chính nên không phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Đối với Lê Thị Minh T1 và Nguyễn Thị Ngọc H có hành vi đánh bạc, do số tiền đánh bạc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; T1, H không có tiền án, tiền sự liên quan đến hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc và gá bạc, Cơ quan điều tra không xử lý hình sự là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Nguyệt M và Đinh Thị Thu C phạm tội: “Đánh bạc".

Áp dụng Điều 50; khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 của của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Huỳnh Nguyệt M 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng, tiền phạt được nộp ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật để nộp ngân sách nhà nước.

Áp dụng Điều 50; khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 của của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Đinh Thị Thu C 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng, tiền phạt được nộp ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật để nộp ngân sách nhà nước.

Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự:

  • Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 2.790.000 (hai triệu bảy trăm chín mươi ngàn) đồng tiền Ngân hàng N (theo giấy nộp tiền số 03 ngày 06/11/2025 của Ngân hàng T2, chi nhánh C2).
  • Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M21 màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng.

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số F2478/LNK-CSHS ngày 04/9/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H).

  • Buộc bị cáo Huỳnh Nguyệt M nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 14.071.500 (mười bốn triệu không trăm bảy mươi mốt ngàn năm trăm) đồng để sung Ngân sách Nhà nước;
  • Buộc bị cáo Đinh Thị Thu C nộp lại số tiền 1.823.900 (một triệu tám trăm hai mươi ba ngàn chín trăm) đồng để sung Ngân sách Nhà nước;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, các bị cáo mỗi người phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2008.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND - VKSND TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - PV 06 - Công an TP.HCM
  • - VKSND khu vực 3-TP.HCM;
  • - PC 10-Công an TP.HCM;
  • - Phòng THADS khu vực 3-TP.HCM;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Tô Đông Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 166/2025/HS-ST ngày 07/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 166/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt huỳnh Nguyệt Mi 40.000.000 đồng; Dinh Thị Thu Cúc 30.000.000 đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger