|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 166/2025/HS-PT Ngày: 26 – 12 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Văn Định
Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Tấn
Ông Phan Thanh Hải
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khoa, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Quan Tuấn Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 171/2025/TLPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Trí T, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trí T và bị hại Lâm Bích V, Lâm Bích L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 51/2025/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cà Mau.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Trí T, sinh ngày 19/02/1993 tại Bạc Liêu; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Ấp T, xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (nay là xã V, tỉnh Cà Mau); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị S; em ruột: có 01 người, sinh năm 2005, bị cáo chưa có vợ, tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 11/12/2024 đến ngày 18/12/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. (Có mặt).
- Bị hại có kháng cáo:
+ Bà Lâm Bích V, sinh ngày 21/5/1976. Địa chỉ: Số A, Khóm B, phường B, tỉnh Cà Mau.
+ Bà Lâm Bích L, sinh ngày 01/01/1970. Địa chỉ: Số B, Khóm A, phường B, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của bà V và bà L: ông Bành Văn Đ, sinh năm 1970. Địa chỉ: Số B, Khóm A, phường B, tỉnh Cà Mau. (Có mặt).
- Bị hại không kháng cáo: Chị Lý Hoàng Như Ý, sinh ngày 03/11/2006. Địa chỉ: Ấp A, xã V, tỉnh Cà Mau. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 08/12/2024 đến 10/12/2024, bị cáo Nguyễn Trí T đã thực hiện hành vi dùng xe mô tô áp sát để cướp giật tài sản của người khác trên địa bàn phường B, tỉnh Cà Mau. Cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 08 giờ ngày 08/12/2024 tại đoạn đường B (đoạn chốt đèn tín hiệu giao thông), khi phát hiện bà Lâm Bích L điều khiển xe chở bà Lâm Bích V chạy cùng chiều, trên tay bà V có cầm 01 túi xách (trong đó có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo; tiền Việt Nam 600.000 đồng và nhiều gói thuốc uống), bị cáo tăng ga vượt lên áp sát để giật túi xách của bà V rồi nha chóng tăng ga bỏ chạy, làm xe của bà L bị ngã. Hậu quả khiến bà L bị thương tích 47% và bà V bị thương tích 20%.
Vụ thứ hai: Khoảng 10 giờ ngày 10/12/2024 tại đoạn đường 23/8 (đoạn Công ty T2), khi phát hiện anh Đặng Trọng T1 điều khiển xe chở chỉ Lý Thị Như Ý1 chạy cùng chiều, trên tay chị Ý có cầm điện thoại iPhone 12 Pro trị giá 6.863.430 đồng, bên trong ốp lưng điện thoại có tiền Việt Nam 280.000 đồng; 01 giấy cầm vàng ghi tên người cầm Như Ý1, loại vàng 24K, trọng lượng 0,5 phân, bị cáo điều khiển xe vượt lên áp sát, giật lấy điện thoại rồi nhanh chóng tăng ga bỏ chạy. Sau đó, bị cáo đã dùng thủ đoạn đi chuộc và chiếm đoạt 01 nhẫn vàng 24K (trị giá 4.190.000 đồng).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 51/2025/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cà Mau đã tuyên xử:
- + Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 171; khoản 1 Điều 38; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trí T phạm tội “Cướp giật tài sản”. Xử phạt bị cáo 07 (bảy) năm tù.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 38; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trí T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù.
- + Áp dung điểm a khoản 1 Điều 55 của bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của 2 tội bị cáo phải chấp hành chung là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 11/12/2024.
- + Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các điều 584, 585, 589 và 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 7 của Nghị quyết số 02/2022//NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Toà án nhân dân tối cao. Buộc bị cáo Nguyễn Trí T bồi thường cho bà Lâm Bích L số tiền 158.658.617 đồng; Buộc bị cáo Nguyễn Trí T bồi thường cho bà Lâm Bích V số tiền 42.842.049 đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 04/10/2025, các bị hại bà Lâm Bích L và bà Lâm Bích V kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo và buộc bị cáo bồi thường theo quy định pháp luật.
Ngày 06/10/2025, bị cáo Nguyễn Trí T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Tại phiên tòa phúc thẩm:
- + Bị cáo rút toàn bộ nội dung kháng cáo; đại diện theo ủy quyền của các bị hại Lâm Bích V và Lâm Bích L rút một phần kháng cáo về trách nhiệm dân sự. Giữ nguyên kháng cáo về hình phạt, đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo.
- + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo và một phần kháng cáo của các bị hại về trách nhiệm dân sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị hại về hình phạt, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2025/HSST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các đơn kháng cáo của bị cáo và bị hại được thực hiện trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Trí T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm b khoản 3 Điều 171 và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo rút toàn bộ kháng cáo; đại diện theo ủy quyền của bị hại V và L rút một phần kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự. Căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của các bị hại về phần trách nhiệm dân sự.
[4] Xét kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt của các bị hại:
Các bị hại cho rằng mức án sơ thẩm chưa tương xứng với hậu quả thương tật gây ra.
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm đến tài sản và sức khỏe của người khác, gây dư luận xấu tại địa phương.
Tuy nhiên, khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường một phần thiệt hại (mỗi bị hại 30.000.000 đồng) và đã ra đầu thú.
Xét thấy, mức hình phạt 07 năm tù về tội Cướp giật tài sản mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là đã nghiêm minh, đã cân nhắc kỹ giữa tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ nêu trên. Mức hình phạt này đã đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt của các bị hại.
[5] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là phù hợp nên được chấp nhận.
[6] Đối với quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với toàn bộ kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trí T và một phần kháng cáo của bị hại Lâm Bích V và Lâm Bích L về trách nhiệm dân sự.
- - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị hại Lâm Bích V và Lâm Bích L về yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo.
Giữ nguyên quyết định hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số 51/2025/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cà Mau.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trí T phạm các tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 171; khoản 1 Điều 38; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trí T 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 38; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trí T 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội nêu trên, buộc bị cáo Nguyễn Trí T phải chấp hành chung là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 11/12/2024.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Văn Định |
Bản án số 166/2025/HS-PT ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về cướp giật tài sản; trộm cắp tài sản
- Số bản án: 166/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản; Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, y án sơ thẩm
