TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 166/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 09/06/2025
V/v tranh chấp: “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Duy Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Tâm.
- Bà Lê Thị Ngọc Thúy.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hùng Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Ông Trần Huỳnh Đức Đập - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 72/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025, về việc tranh chấp: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 115/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm 1992 (Có mặt);
Địa chỉ: ấp G, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang
- Bị đơn: Anh Phan Vũ N, sinh năm 1991 (Vắng mặt);
Địa chỉ: ấp G, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Sau thời gian tự tìm hiểu, chị và anh Ngọc T1 đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới vào năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang vào năm 2015. Quá trình chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, chị và anh N cùng với mẹ anh N không thuận thảo nên thường xuyên cãi nhau do mâu thuẫn về tiền bạc, cũng như việc anh N không lo lắng cho vợ con. Chị và anh N đã ly thân từ đầu năm 2025 cho đến nay. Chị đã về nhà cha mẹ ruột ở ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang sinh sống. Nay tình cảm không còn chị yêu cầu ly hôn với anh Phan Vũ N.
- Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Phan Nguyễn Thiện N1, sinh ngày 12/10/2015 và Phan Nguyễn Khả H, sinh ngày 21/04/2021. Hiện nay, cháu N1 đang sống với anh N, cháu H đang sống với chị. Ly hôn, chị giao cháu N1 cho anh N được tiếp tục nuôi dưỡng, chị được tiếp tục nuôi dưỡng cháu H. Chị và anh N không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Anh chị không có.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Phan Vũ N vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều T dù đã được Tòa án triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kiều T, cho chị T được ly hôn với anh Phan Vũ N.
Về con chung: Giao cháu Phan Nguyễn Thiện N1, sinh ngày 12/10/2015 cho anh N tiếp tục nuôi dưỡng; giao cháu Phan Nguyễn Khả H, sinh ngày 21/04/2021 cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng, chị T và anh N không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Tại phiên tòa, bị đơn anh Phan Vũ N vắng mặt không lý do dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh N tham gia phiên tòa lần thứ hai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều T, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông không có ý kiến về việc vắng mặt bị đơn anh Phan Vũ N và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh N kết hôn vào năm 2015, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và ngày 18 tháng 5 năm 2015 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 29/2015, quyển số 01/2015 nên là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của chị T, căn cứ vào lời khai của chị T và kết quả xác minh tại địa phương, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hôn nhân của vợ chồng anh chị đã phát sinh mâu thuẫn từ cuối năm 2024, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, chị và anh N cùng với mẹ anh N không thuận thảo nên thường xuyên cãi nhau do mâu thuẫn về tiền bạc, cũng như việc anh N không lo lắng cho vợ con. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh N không đến Tòa án, không có văn bản trình bày ý kiến hay phản đối yêu cầu ly hôn của chị T mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nên căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 những phát sinh mâu thuẫn trong hôn nhân mà chị T trình bày là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh; nay anh N không muốn hàn gắn tình cảm và cũng không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này. Từ những tình tiết nêu trên, có đủ căn cứ để xác định mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử nhận thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T được ly hôn với anh N là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Anh chị có 02 con chung Phan Nguyễn Thiện N1, sinh ngày 12/10/2015 và Phan Nguyễn Khả H, sinh ngày 21/04/2021. Hiện nay, cháu N1 đang sống với anh N, cháu H đang sống với chị T. Ly hôn, chị T giao cháu N1 cho anh N được tiếp tục nuôi dưỡng, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu H.
Xét thấy, hiện nay cháu N1 đã sống ổn định với anh N, cháu H cũng đang sống ổn định với chị T. Đồng thời, cháu N1 cũng có nguyện vọng sống cùng anh N. Anh N không đến tham gia phiên tòa cũng không có văn bản trình bày ý kiến về việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung chứng tỏ anh N không có ý kiến về việc chị T giao cháu N1 cho anh N được tiếp tục nuôi dưỡng, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu H. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu B, Hội đồng xét xử nhận thấy việc giao cháu Phan Nguyễn Thiện N1, sinh ngày 12/10/2015 cho anh N tiếp tục nuôi dưỡng; giao cháu Phan Nguyễn Khả H, sinh ngày 21/04/2021 cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T trình bày trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi cháu Phan Nguyễn Khả H, chị không cấp dưỡng nuôi cháu Phan Nguyễn Thiện N1. Anh N không đến tham gia phiên tòa cũng không có văn bản thể hiện ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi cháu H, cháu N1 nên Hội đồng xét xử nhận thấy anh N chưa phải cấp dưỡng nuôi cháu H do chị T, chị T chưa phải cấp dưỡng nuôi cháu N1 do anh N chưa có yêu cầu là phù hợp với quy định pháp luật.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị N trình bày trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa về tài sản chung anh chị sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết; về nợ chung anh chị không có. Anh N không đến tham gia phiên tòa cũng không có văn bản thể hiện ý kiến về việc này nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2.4] Về án phí: Chị N có yêu cầu ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[2.5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kiều T, cho chị T được ly hôn với anh Phan Vũ N.
2. Về con chung: Giao con chung tên Phan Nguyễn Thiện N1, sinh ngày 12/10/2015 cho anh Phan Vũ N được trực tiếp nuôi dưỡng.
Giao con chung tên Phan Nguyễn Khả H, sinh ngày 21/04/2021cho chị Nguyễn Thị Kiều T được trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị Nguyễn Thị Kiều T chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung tên Phan Nguyễn Thiện N1 do anh Phan Vũ N chưa có yêu cầu.
Anh Phan Vũ N chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung tên Phan Nguyễn Khả H do chị Nguyễn Thị Kiều T chưa có yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kiều T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0014016 ngày 12 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang nên xem như chị T đã nộp đủ án phí.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Ngọc Duy Linh |
Bản án số 166/2025/HNGĐ-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 166/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn
