|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 166/2025/DSPT Ngày: 08 - 4 -2025 V/v “tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề” |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
-
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan
Các Thẩm phán
Bà Phan Thị Tuyết Mai;
Bà Nguyễn Thị Trang Thư.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 03 và 08 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 431/2024/TLPT- DS ngày 09 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp ranh giới giữa cấc bất động sản liền kề".
Do bản án dân sự sơ thẩm số 49/2024/DS – ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ có ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị S, ông Đỗ Thái H kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 555/2024/QĐPT-DS ngày 18 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Phan Thành T, sinh năm 1986; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
Đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Văn N1, sinh năm 1955; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
2. Bị đơn:
2.1 Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1967; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
2.2 Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1969; nơi cư trú: ấp T, xã T; huyện P, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
2.3 Bà Nguyễn Thị B (chết năm 2013).
Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà B:
2.3.1 Ông Đỗ Thái H, sinh năm 1983. (có mặt)
2.3.2 Ông Đỗ Thái B1, sinh năm 1984. (vắng mặt)
2.3.3 Bà Đỗ Hiền K, sinh năm 1985. (vắng mặt)
Cùng nơi cư trú: Khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
3. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị S, ông Đỗ Thái H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay của nguyên đơn Phan Thành T trình bày: Ông Phan Thành T được cha là ông Phan Văn N1 tặng cho các phần đất:
Thửa đất 1174, tờ bản đồ số 9; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS03696 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 10/7/2017.
Thửa đất 82, 83, tờ bản đồ số 9; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00518 do UBND huyện P cấp ngày 25/02/2011 chỉnh lý sang tên ông T ngày 30/5/2017, diện tích đất là 9754 m².
Các phần đất trên có địa chỉ tại ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Phần đất của ông T giáp ranh với các thửa đất: thửa 84, 86, tờ bản đồ số 09 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01299 do UBND huyện P cấp ngày 10/8/2009 cho ông Nguyễn Văn N; thửa 1106, tờ bản đồ số 09 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01297 do UBND huyện P cấp ngày 10/8/2009 cho bà Nguyễn Thị S; thửa 85, tờ bản đồ số 09 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01298 do UBND huyện P cấp ngày 10/8/2009 cho bà Nguyễn Thị B (chết). Trong quá trình sử dụng đất, ông T phát sinh tranh chấp với 03 hộ nêu trên. Ông thống nhất với bản trích đo địa chính số 191 ngày 30/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai, Sở tài nguyên và môi trường thành phố C. Ông T khởi kiện yêu cầu công nhận các phần đất tranh chấp ký hiệu A, B, C, D, E, F, G có tổng diện tích 362,5 m² theo bản trích đo địa chính số 191 ngày 30/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai, Sở tài nguyên và môi trường thành phố C là của ông.
Bị đơn – ông Nguyễn Văn N trình bày: Ông sử dụng đất giáp ranh với đất ông Phan Thành T. Ông N được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận QSD đất các thửa 84, 86, tờ bản đồ số 09 ngày 10/8/2009, diện tích là 7.533 m². Khi nhà nước làm đường V - T - Bốn Tổng gia đình ông N đã bị thu hồi diện tích đất là 405,4 m². Ông thống nhất với bản trích đo địa chính số 191 ngày 30/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai, Sở tài nguyên và môi trường thành phố C. Ông N không có lấn chiếm đất của ông T. Ông N phản tố yêu cầu cho gia đình ông được hưởng lại phần diện tích như ban đầu theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 7.533 m².
Bị đơn – bà Nguyễn Thị S trình bày: Bà được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận QSD đất số H01297 ngày 10/8/2009 thửa 1160, tờ bản đồ số 09, diện tích là 2.464 m². Bà thống nhất với bản trích đo địa chính số 191 ngày 30/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai, Sở tài nguyên và môi trường thành phố C. Bà không có lấn ranh đất của nguyên đơn. Bà S phản tố yêu cầu lấy lại số diện tích đất ban đầu là 2.464 m² đúng với giấy chứng nhận QSDĐ mà nhà nước công nhận cho bà.
Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bị đơn - bà Nguyễn Thị B trình bày:
Ông Đỗ Thái H: Mẹ ông là bà Nguyễn Thị B (chết năm 2013) được thừa kế phần đất thửa 85, tờ bản đồ số 09, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01298 do UBND huyện P cấp ngày 10/8/2009 đứng tên bà B, diện tích là 2.633 m². Cha mẹ ông đều đã mất, cha mẹ ông chỉ có 03 người con ruột là Đỗ Thái B1, Đỗ Thái H, Đỗ Thị Hiền K không có người con nuôi nào. Ông H thống nhất với bản trích đo địa chính số 191 ngày 30/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai, Sở tài nguyên và môi trường thành phố C. Ông có yêu cầu phản tố được hưởng lại phần diện tích đất như ban đầu theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 2.633 m² mà nhà nước công nhận cho mẹ ông.
Ông Đỗ Thái B1: Phần đất của mẹ ông được cấp diện tích bao nhiêu thì ông yêu cầu lấy đủ đất như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Nhà nước công nhận cho mẹ ông.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Quá trình chuẩn bị xét xử Thẩm phán thực hiện đúng các quy định pháp luật về tố tụng, xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền nhưng vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án Kiểm sát viên phân tích, đánh giá từng yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn từ đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 68, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 175 Bộ luật dân sự, Điều 203 Luật đất đai. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận phản tố của bị đơn.
Tại Bản án 49/2024/DS – ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phong Điền đã tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xác định ranh giới thửa 1174, thửa 83 với thửa 86, thửa 84, thửa 85, thửa 1160 như sau: công nhận phần đất tranh chấp diện tích 52,1m² (tại vị trí A), diện tích 65,5m² (tại vị trí B), diện tích 11,4m² (tại vị trí C), diện tích 22,0m² (tại vị trí D), diện tích 39,3m² (tại vị trí E), diện tích 29,7m² (tại vị trí F), diện tích 142, 5m² (tại vị trí G) thuộc quyền sử dụng đất của ông Phan Thành T. Đất tại ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
(Kèm theo Bản trích đo địa chính số 191 ngày 30/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai, Sở tài nguyên và môi trường thành phố C).
Các đương sự có trách nhiệm đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình theo đúng quy định của pháp luật.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện bổ sung ngày 16/4/2024 của ông T buộc ông N phải khai thông đường nước.
Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng; án phí dân sự sơ thẩm; quyền kháng cáo và thời thiệu kháng cáo của các đương sự.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố, người kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp chứng cứ mới.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về hình thức kháng cáo: Xét thấy bị đơn kháng cáo trong thời hạn luật định và thuộc trường hợp miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem hợp lệ về mặt hình thức.
Về nội dung kháng cáo: Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự thể hiện phần đất của nguyên đơn là thửa 82 (nay thửa 1174), 83 giáp với thửa 1160 của bà Nguyễn Thị S, thửa 85 của bà Nguyễn Thị B và thửa 84 và 86 của ông Nguyễn Văn N. Kết quả đo đạc thực tế Thửa 1174 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông T đứng tên có diện tích 303m² nhưng diện tích qua đo đạc là 144,5m², diện tích thực tế sử dụng bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 158,5m². Thửa 83 có diện tích 7.990m², đo đạc thực tế là 7.673,8m², thiếu 316,2m². Tổng diện tích đất thửa 1174, thửa 83 mà nguyên đơn thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 474,7m².
Thửa 84 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông N đứng tên có diện tích 5.21 lm² đo đạc thực tế là 4.523,3rn2 diện tích thực tế sử dụng bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 687,7m². Thửa 86 thiếu 152,5m². Theo bản trích đo địa chính số 191 ngày 30/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai, Sở T thành phố cần Thơ diện tích đất mà ông N bị nhà nước thu hồi để làm lộ V - T - Bốn Tổng là 405,4m²; như vậy tổng diện tích đất thửa 84, thửa 86 mà ông N thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 434,8m².
Thửa 1160 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà S đứng tên có diện tích 2.464m² đo đạc thực tế là 2.345,9m² diện tích thực tế sử dụng bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 118,1m².
Thửa 85 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà B đứng tên có diện tích 2.633m² đo đạc thực tế là 2.474m² diện tích thực tế sử dụng bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 159m².
Phần đất tranh chấp diện tích 362,5m² nếu cộng vào một trong các bên thì đất của các bên đều thiếu. Do đó, cần căn cứ vào các chứng cứ khác để xem xét yêu cầu của các đương sự. Đối với phần đất của nguyên đơn được cấp giấy vào năm 2011, 2017 đều có đo đạc thực tế, có ký xác nhận ranh giới, mốc giới có chữ ký của các hộ giáp ranh, trong đó có các bị đơn. Hơn nữa, theo bản trích đo địa chính thể hiện phần đất tranh chấp của các đương sự đều thể hiện có trụ đá và trụ cây. Hơn nữa, phần đất của bà B thì các con bà B đều thừa nhận đã có trụ ranh từ trước đến nay. Như vậy, các bị đơn kháng cáo yêu cầu công nhận đủ đất như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các bị đơn là không có căn cứ chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 49/2024/DS-ST ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, theo hướng không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị S và ông Đỗ Thái H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Theo đơn kháng cáo và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa xác định các bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, cụ thể công nhận cho các bị đơn quyền sử dụng phần đất tranh chấp sao cho đất của các bị đơn đủ diện tích so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Nhận thấy, đất của các bên đương sự nguyên đơn và bị đơn đều đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, để xem xét yêu cầu kháng cáo của các bị đơn cần xem xét diện tích đất thực tế các bên đang sử dụng so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đồng thời xem xét lại trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như quá trình sử dụng đất của các bên;
[2] Về trình tự cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Theo Công văn 1297 ngày 22/5/2024 Ủy ban nhân dân huyện P, thành phố Cần Thơ xác định: “Trình tự cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01299 ngày 10/8/2009, H01298 ngày 10/8/2009, H01297 ngày 10/8/2009, CH00518 ngày 25/02/2011 là đúng quyd dịnh pháp luật”.
[3] Căn cứ vào kết quả đo đạc tại Bản trích đo địa chính số 191 ngày 30/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C thì số đo hiện trạng sử dụng của các thửa đất như sau:
[3.1] Thửa 1174 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông T đứng tên có diện tích 303m² nhưng diện tích qua đo đạc thực tế là 144,5m², thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 158,5m². Thửa 83 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông T đứng tên có diện tích 7.990m², đo đạc thực tế là 7.673,8m², diện tích thực tế sử dụng bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 316,2m². Tổng diện tích đất thửa 1174, thửa 83 mà nguyên đơn thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 474,7m².
[3.2] Thửa 84 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông N đứng tên có diện tích 5.211m² đo đạc thực tế là 4.523,3m² diện tích thực tế sử dụng bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 687,7m². Thửa 86 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông N đứng tên theo giấy chứng nhận có diện tích 2.322m², đo đạc thực tế 2.169,5m², diện tích thực tế sử dụng bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 152,5m². Theo bản trích đo địa chính số 141 ngày 30/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C diện tích đất mà ông N bị nhà nước thu hồi để làm lộ V - T - Bốn Tổng là 405,4m²; như vậy tổng diện tích đất thửa 84, thửa 86 mà ông N thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 434,8m².
[3.3] Thửa 1160 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà S đứng tên có diện tích 2.464m² đo đạc thực tế là 2.345,9m² diện tích thực tế sử dụng bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 118,1m².
[3.4] Thửa 85 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà B đứng tên có diện tích 2.633m² đo đạc thực tế là 2.474m² diện tích thực tế sử dụng bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 159m².
[3.5] Căn cứ vào hồ sơ trích địa chính của thửa đất được trích lục tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P thì nguồn gốc đất của ông T trước đây là của ông Lê Văn H1. Ông H1 chuyển nhượng cho ông Phan Văn N1 và ông N1 tặng cho quyền sử dụng đất lại cho nguyên đơn. Quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông N đều có ký giáp ranh tứ cận (bút lục 54, 63).
[3.6] Như vây, căn cứ vào thực tế sử dụng đất thì đất của nguyên đơn và bị đơn đều còn thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Tuy nhiên, đối với đất của bà B, theo lời trình bày của ông H, con bà B thì bà B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thông qua Bản án về việc chia thừa kế nên hình thể, diện tích chiều ngang, chiều dài của thửa đất được thể hiện cụ thể đồng thời, ranh giới đất của bà B với ông T được xác định và có cắm trụ ranh. Hiện tại, trụ ranh vẫn còn, không có sự thay đổi, phần đất tranh chấp do ông T sử dụng. Do đó, mặc dù đất của bà B có thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đất của bà B và ông T đã có trụ ranh ổn định và đất của bà B còn giáp với các thửa đất khác nên ông H yêu cầu được công nhận phần đất tranh chấp để đủ diện tích đất so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không có cơ sở chấp nhận.
[3.7] Đối với đất của ông N, bà S. Tại phiên tòa, các đương sự đều thừa nhận đất của ông N, bà B, bà S được xác lập dựa trên bản án chia thừa kế nên có diện tích cụ thể chiều ngang, dài và ranh giới đất giữa các thửa đất liền kề. Thực tế ranh giới đất giữa các bên đều có trụ ranh ổn định từ trước đến nay. Mặt khác, đất của ông N đã bị thu hồi một phần đề làm đường V, sau khi bị thu hồi ông N chưa tiến hành điều chỉnh lại hình thể, diện tích đất thực tế của thửa đất. Hơn nữa, khi ông T làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phía bị đơn có ký giáp ranh tứ cận thửa đất. Tại Công văn số 1297/UBND – TNMT ngày 22/5/2024 của UBND huyện P, thành phố Cần Thơ cũng có ý kiến “ Nguyên nhân sự chênh lệch diện tích đất giảm: do hình thể, kích thước thửa đất số 82, 83, 84, 85, 86, 1160, 1174 đã thay đổi so với thời điểm được cấp giấy. Do đó, ông N, bà S, ông H yêu cầu được công nhận phần đất tranh chấp để đủ diện tích như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không có cơ sở chấp nhận.
Như vậy, Bản án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ nên giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm. Ông N, bà S, ông H kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ, chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của ông, bà nên yêu cầu kháng cáo của ông, bà là không có cơ sở chấp nhận.
Ngoài ra, theo hồ sơ, phần đất tranh chấp của các bên đương sự được thể hiện tại Bản trích đo địa chính số 1408/TTKTTNMT ngày 05/12/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C. Bản trích đo này được thay thế bởi Bản trích đo địa chính số 141/VPĐKĐĐ ngày 30/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C. Hồ sơ vụ án không có Bản trích đo địa chính số 191/VPĐKĐĐ ngày 30/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C. Do đó, Bản án sơ thẩm đã tuyên áp dụng Bản trích đo địa chính số 191 là có nhầm lẫn trong quá trình đánh máy nên cần điều chỉnh lại.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Các bị đơn bà Nguyễn Thị S, ông Nguyễn Văn N, ông Đỗ Thái H mỗi người phải chịu 300.000 đồng và được chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp thành án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị đơn bà Nguyễn Thị S, ông Nguyễn Văn N, ông Đỗ Thái H.
2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 49/2024/DS – ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
2.1 Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xác định ranh giới thửa 1174, thửa 83 với thửa 86, thửa 84, thửa 85, thửa 1160 như sau: công nhận phần đất tranh chấp diện tích 52,1m² (tại vị trí A), diện tích 65,5m² (tại vị trí B), diện tích 11,4m² (tại vị trí C), diện tích 22,0m² (tại vị trí D), diện tích 39,3m² (tại vị trí E), diện tích 29,7m² (tại vị trí F), diện tích 142, 5m² (tại vị trí G) thuộc quyền sử dụng đất của ông Phan Thành T. Đất tại ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
(Kèm theo Bản trích đo địa chính số 141 ngày 30/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai, Sở tài nguyên và môi trường thành phố C).
2.2 Các đương sự có trách nhiệm đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình theo đúng quy định của pháp luật.
3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện bổ sung ngày 16/4/2024 của ông T buộc ông N phải khai thông đường nước.
4. Chi phí tố tụng khác: Chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định và định giá tài sản: ông T tự nguyện chịu 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng); ông N đã nộp 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng), bà S đã nộp 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng). Ông B1, ông H, bà H2 đã nộp 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng), các bị đơn đã thực hiện xong.
4. Án phí dân sự:
4.1 Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai tạm ứng án phí số 0007556 ngày 12/10/2022 tại chi Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền. Ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị S, ông Đỗ Thái H mỗi người phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng); chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp tại các phiếu thu số 0006412, 0006413, 0006415 ngày 19/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ thành án phí.
4.2 Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị S, ông Đỗ Thái H mỗi người phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị S, ông Đỗ Thái H được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu số: 0006464; 0006465; 0006467 ngày 10/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ thành án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Loan |
Bản án số 166/2025/DSPT ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề
- Số bản án: 166/2025/DSPT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trung - Năm - T/c ranh giới giữa các bất động sản liền kề
