|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
|
Bản án số: 166/2024/HSST Ngày: 20/08/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
| Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: | Bà Nguyễn Thị Kim Liên. |
| Hội thẩm nhân dân | Ông Nguyễn Văn Hành. |
| Ông Hoàng Văn Long. | |
| Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Từ Ngọc Thúy - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội. | |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì: Ông Tô Xuân Tùng – Kiểm sát viên. | |
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 151/2024/HSST ngày 16/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2024/QĐXXST-HS ngày 22/7/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 49/2024/HPT-QĐ ngày 08/08/2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Trương Ngọc H - sinh năm 1973. Nơi cư trú: Phòng A, nhà F, tập thể X, số A đường N, phường T, T, Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn Giáo: Không; Giới tính: nam. Con ông: Trương Ngọc V (đã chết), Con bà Bùi Thị L (đã chết); Anh chị, em ruột: Có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai. Có vợ Nguyễn Thị S, có 01 con sinh năm: 2005. Danh chỉ bản số 341 ngày 13/5/2024 Công an huyện T lập; Tiền án: 04 tiền án (đã xóa); 02 tiền sự: (đã xóa). Nhân thân: Ngày 04/7/1990 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 16 tháng về tội “Cướp giật tài sản của công dân”.Bản án số 278/HSST (đã xóa án tích); Ngày 02/12/1997, bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 481/HSST (đã xóa án tích); Ngày 30/07/2002 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân xử phạt 28 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bản án số 82/HSST (đã xóa án tích); Ngày 18/9/2008 bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 28 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bản án số 464/ HSST (đã xóa án tích). Bị cáo đầu thú bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an thành phố H.
Có mặt tại phiên toà.
-
Họ và tên: Ma Thị H1 - sinh năm 1977. Nơi cư trú: Tổ A phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá:6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn Giáo: Không; Giới tính: nữ. Con ông: Ma Tuấn V1, Con bà Bùi Thị B; Anh chị, em ruột: Có 05 anh em, bị cáo là con thứ hai. Danh chỉ bản số 608 ngày 9/11 /2023 Công an huyện T lập; Tiền án: 01 tiền án (chưa xóa án tích). Ngày 13/4/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 16 tháng về tội “Môi giới mại dâm”. Án số 54/2022/HSST”. Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/11/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam S1 - Công an thành phố H.
-
Họ và tên: Nguyễn Viết C - sinh năm 1977. Nơi cư trú: thôn M, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh . Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá:12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn Giáo: Không; Giới tính: nam. Con ông: Nguyễn Văn C1 (đã chết), Con bà Nguyễn Thị Q; Anh chị, em ruột: Có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Có vợ: Đỗ Thị X, có 03 con, con sinh năm: 2010, 2014, 2016. Danh chỉ bản số 609 ngày 9 /11 /2023 Công an huyện T lập; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/11/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam S1- Công an thành phố H.
-
Họ và tên: Trần Văn T - sinh năm 1974. Nơi cư trú: Thôn X, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 02/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn Giáo: Công giáo; Giới tính: Nam. Con ông: Trần Văn B1, Con bà Lê Thị L1; bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Có vợ: Trần Thị P, có 03 con sinh năm: 1998, 2002, 2007. Danh chỉ bản số 362 ngày 20/05/2024 Công an huyện T lập; Tiền án: không: tiền sự: có 01 tiền sự (đã hết thời hiệu). Bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam S1 - Công an thành phố H.
-
Họ và tên: Đặng Xuân D1 - sinh năm 2004. Nơi cư trú: Ngõ A, tổ A, phường K, quận H, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn Giáo: Không; Giới tính: Nam. Con ông: không có bố, Con bà Đặng Thị Y; bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Danh chỉ bản số 100 ngày 30/1/2024 Công an huyện T lập; Tiền án: không, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam S1- Công an thành phố H.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
-
Anh Tống Minh T1, sinh năm 1966. Vắng mặt. Địa chỉ: Số C, ngõ D, đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
-
Chị Tôn Thị V2, sinh năm 1991. Vắng mặt. Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
-
Anh Nguyễn Tiến L2, sinh năm 1976. Vắng mặt. Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện C, Hà Nội.
-
Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1984. Vắng mặt. Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh.
-
Anh Đỗ Tùng L3, sinh năm 1993. Vắng mặt. Địa chỉ: Số D ngõ V, phường C, quận H, thành phố Hà Nội
-
Chị Hoàng Thị T3, sinh năm 1989. Vắng mặt. Địa chỉ: Thôn K, xã S, huyện V, tỉnh Lào Cai.
-
Chị Quàng Thị B2, sinh năm 2004. Vắng mặt. Địa chỉ: Bản N, xã B, huyện T, tỉnh Sơn La.
-
Anh Nguyễn Thế Đ, sinh năm 1972. Vắng mặt. Địa chỉ: P, CT8A, Khu đô thị Đ, Tả Thanh O, T, Hà Nội.
-
Chị Nông Thị T4, sinh năm 1987. Vắng mặt. Địa chỉ: Thôn K, xã S, huyện V, tỉnh Lào Cai.
-
Anh Nguyễn Xuân H2, sinh năm 1974. Vắng mặt. Địa chỉ: Số D, ngõ D, Bà T5, N, H, Hà Nội.
-
Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1988. Vắng mặt. Địa chỉ: Số A phố N, phường M, quận N, thành phố Hà Nội.
-
Anh Nguyễn Vỹ D2, sinh năm 1969. Vắng mặt. Địa chỉ: Ngõ G, H, H, T, Hà Nội.
-
Chị Bạc Thị T6, sinh năm 2004. Vắng mặt. Địa chỉ: Bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Các bị cáo Trương Ngọc H, Ma Thị H1, Nguyễn Viết C, Trần Văn T và Đặng Xuân D1 bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Hồi 21h30 phút ngày 02/11/2023, Tổ công tác Phòng C3 - Công an thành phố H phối hợp với Công an xã T tiến hành kiểm tra hành chính Nhà nghỉ Đ1 tại ngõ A đường C, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Qúa trình kiểm tra, Tổ công tác phát hiện tại quầy lễ tân nhà nghỉ có Trương Ngọc H (sinh năm: 1973; Nơi cư trú: số A ngõ A, tập thể xà phòng, phường T, quận T, thành phố Hà Nội) là quản lý nhà nghỉ.
Tại khu vực quầy lễ tân ở tầng 1 gồm có:
-
Nguyễn Viết C, C khai đang chờ để đón nhân viên nữ đang mua bán dâm trong nhà nghỉ Đ1. C chở nhân viên đi bán dâm theo sự chỉ đạo của Ma Thị H1 là chủ quán C4 tại số A Cầu B, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Tại chỗ, Tổ công tác thu giữ của C 01 điện thoại di động OPPO, 01 chiếc xe máy BKS 99G1-49710.
-
Đặng Xuân D1, D1 khai đang chờ để đón nhân viên nữ đang mua bán dâm trong nhà nghỉ Đ1. D1 là nhân viên của Trần Văn T (sinh năm: 1974, Nơi cư trú: xã G, huyện G, tỉnh Nam Định) làm công việc chở gái bán dâm cho khách theo sự chỉ đạo của T. Tặng là chủ quán C4 tại số D đường C, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Tặng trả cho D1 số tiền 250.000 đồng/01 ngày. Tại chỗ, Tổ công tác của D1 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6s, 01 chiếc xe máy BKS 33R4-9086.
-
Hoàng Thị N (sinh năm: 1988, Nơi cư trú: số A N, M, N, Hà Nội), N khai là nhân viên bán dâm của T, N vừa bán dâm ở phòng 301. Tại chỗ, Tổ công tác thu giữ của N 01 chiếc điện thoại Samsung.
-
Nông Thị T4 (sinh năm: 1987; Nơi cư trú: thôn K, xã S, huyện V, tỉnh Lào Cai), T4 là nhân viên của T, T4 vừa bán dâm cho Nguyễn Thế Đ ở phòng 302 và đang chờ D1 đón về. Tại chỗ, Tổ công tác thu giữ của T4 01 điện thoại S2.
-
Quàng Thị B2 (sinh năm: 2004; Nơi cư trú: xã B, huyện T, tỉnh Sơn La), B2 là nhân viên của H1, B2 vừa bán dâm cho khách xong và đang đợi người đón về. Tại chỗ, Tổ công tác thu giữ của Bỉnh 01 chiếc điện thoại OPPO83 màu hồng.
Tại các phòng của nhà nghỉ gồm có:
-
Tại phòng 102 gồm có Nguyễn Vỹ D2 (sinh năm: 1969; Nơi cư trú: xã H, huyện T, thành phố Hà Nội) và Bạc Thị T6 (sinh năm: 2004, Nơi cư trú: Bản C, Thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên) đang quan hệ tình dục với nhau, T6 là nhân viên của T. Khoảng 20h30 phút ngày 02/11/2023, T6 và D2 thỏa thuận việc mua bán dâm với giá 250.000 đồng/lượt, thỏa thuận xong Đặng Văn D3 chở T6 đến phòng 102 bán dâm cho D2. Tại chỗ, Tổ công tác đã thu giữ 01 bao cao su đã qua sử dụng và số tiền 300.000 đồng.
-
- Tại phòng 201 có Đỗ Tùng L3 (sinh năm: 1993; Nơi cư trú: số D ngõ V, phường C, quận H, thành phố Hà Nội) và Hoàng Thị T3 (sinh năm: 1989; Nơi cư trú: xã S, huyện V, tỉnh Lào Cai) đang chuẩn bị quan hệ tình dục với nhau. Thần là nhân viên của H1 đã thỏa thuận với L3 giá bán dâm là 250.000 đồng/01 lượt, khách trả 80.000 đồng tiền thuê phòng nhà nghỉ. Tại chỗ, Tổ công tác thu giữ tang vật của T3 gồm 01 chiếc điện thoại di động Oppo A76.
-
- Tại phòng 202 có Tống Minh T1 (sinh năm: 1966, Nơi cư trú: phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang) và Tôn Thị V2 (sinh năm: 1991; Nơi cư trú: xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc) đang quan hệ tình dục với nhau. Khoảng 21h ngày 02/11/2023, T1 đến quán của H1 để thỏa thuận mua bán dâm với V2, sau đó V2 và T1 đi đến thuê phòng 202 của nhà nghỉ Đ1 để thực hiện việc mua bán dâm. Tại chỗ, Tổ công tác thu giữ tang vật gồm 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, số tiền 250.000 đồng, 01 bao cao su đã qua sử dụng.
-
-Tại phòng 301 có Nguyễn Xuân H2 (sinh năm: 1974; Nơi cư trú: phường N, quận H, thành phố Hà Nội). Tại chỗ, H2 khai nhận vừa mua bán dâm với N.
-
- Tại phòng 302 có Nguyễn Thế Đ (sinh năm: 1972; Nơi cư trú: phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội). Tại chỗ, Đ khai nhận vừa mua bán dâm với T4.
-
- Tại phòng 401 có Nguyễn Tiến L2 (sinh năm: 1976; Nơi cư trú: xã L, huyện C, thành phố Hà Nội) và Nguyễn Thị T2 (sinh năm:1984; Nơi cứ trú: xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh) đang quan hệ tình dục với nhau. T2 là nhân viên của H1 khoảng 20h45 phút cùng ngày anh L2 đến quán của H1 thỏa thuận việc mua bán dâm với T2. Sau đó T2 được C chở đến nhà nghỉ B5 thuê phòng 401 để bán dâm cho L2, L2 sẽ trả tiền nhà nghỉ là 80.000 đồng. L2 đã đưa cho T2 350.000 đồng. Tại chỗ, Tổ công tác thu giữ tang vật gồm 01 điện thoại Iphone 6, 01 điện thoại Oppo A57 và số tiền 350.000 đồng, 01 bao cao su đã qua sử dụng.
Hồi 23h30 phút ngày 02/11/2023, Tổ công tác Phòng C3 - Công an thành phố H phối hợp với Công an xã T tiếp tục tiến hành kiểm tra quán cafe tại số A Cầu B, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội phát hiện được Ma Thị H1 đang ở quán. Tại chỗ, H1 không xuất trình được giấy tờ kinh doanh của cơ sở nên Tổ công tác đưa H1 về trụ sở để làm việc. Ngoài ra, Tổ công tác còn thu giữ của H1 01 chiếc điện thoại kiểu dáng Iphone, 01 chiếc điện thoại S2.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T, Ma Thị H1, Nguyễn Viết C khai nhận: Khoảng tháng 5/2023, Ma Thị H1 (tên thường gọi là Q1) có chung vốn với Nguyễn Đức D4 (sinh năm: 1972; Nơi cư trú: xã Đ, huyện Ứ, thành phố Hà Nội) mở quán cafe nhưng không kinh doanh cafe mà H1 tuyển V2, T3, T2, B2 và một số nhân viên nữ để làm gái mại dâm. Hàng ngày gái mại dâm đến quán từ 20h00 để ngồi chờ đón khách mua dâm cho đến khi hết khách (khoảng 03, 04h sáng ngày hôm sau) thì được nghỉ. Gái bán dâm được nuôi ăn bữa tối không phải trả tiền ăn, nếu không có chỗ ở thì được sắp xếp ở lại quán không phải trả tiền thuê nhà. Nếu có khách đến đặt vấn đề mua dâm thì H1 hoặc gái bán dâm thỏa thuận giá bán dâm với khách 250.000 đồng/1 lần mua dâm nhanh (trong thời gian tối đa 30 phút và chỉ được quan hệ một lần). Nếu có khách mua dâm qua đêm, thỏa thuận với khách từ 1.000.000 đồng đến 1.200.000 đồng/01 đêm tùy theo thời gian khách đến sớm hay muộn. Nếu khách đồng ý với mức giá, H1 sẽ bảo Nguyễn Viết C chở gái bán dâm đến nhà nghỉ Đ1 ở địa chỉ Ngõ A Cầu B, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội của Trương Ngọc H để thuê phòng mua bán dâm cho yên tâm do H1 đã thỏa thuận trước với H về việc gái bán dâm sẽ chỉ bán dâm tại nhà nghỉ của H. Tiền khách thanh toán cho gái mại dâm trước khi quan hệ tình dục và sau khi bán dâm xong thì gái bán dâm nhắn tin lên nhóm zalo của quán để H1 hoặc anh C đến đón gái bán dâm quay về quán tiếp tục chờ khách mua dâm khác. Khi đến cuối ngày, H1 và gái bán dâm sẽ tính toán dựa trên số lần đã bán dâm trong ngày để nộp lại tiền cho H1 theo thỏa thuận 100.000 đồng một lần mua dâm nhanh hoặc 50% số tiền đã thỏa thuận với khách qua đêm, nếu khách cho gái thêm tiền ngoài thỏa thuận ban đầu thì gái được hưởng hết. Để phục vụ việc quản lý hoạt động bán dâm của gái, H1 lập ra nhóm zalo có tên hiển thị là “Hội chị em CB...”, quy định mỗi lần gái đi bán dâm thì phải nhắn tin số lần vào nhóm này để H1 thu tiền của gái theo số lần bán dâm trong ngày, quy ước với gái khi bắt đầu cùng với khách mua dâm vào phòng thì phải nhắn lên nhóm nội dung “Xh” có nghĩa là “xem giờ” để H1 bắt đầu tính thời gian, vì theo quy định mỗi gái chỉ được bán dâm trong khoảng thời gian 30 phút. Hết 30 phút thì gái bán dâm phải nhắn tiếp vào nhóm để H1 hoặc C đến đón về hoặc tính ca thứ 2. Việc nhắn vào nhóm như trên là để trong trường hợp khi có khách đến quán mà H1 đang bận hoặc không có mặt ở quán mà gái đi bán dâm cho khách thì H1 vẫn biết được để kiểm soát và thu tiền của gái bán dâm. Tổng số tiền H1 thu lợi bất chính được từ việc môi giới mại dâm là 150.000.000 đồng.
Khoảng 20h30 phút ngày 2/11/2023, tại quán cafe của H1 có Tống Minh T1 đi đến thỏa thuận mua bán dâm với Tôn Thị V2, Nguyễn Tiến L2 thỏa thuận mua bán dâm với Nguyễn Thị T2, Đỗ Tùng L3 thỏa thuận mua bán dâm với Hoàng Thị T3, Quàng Thị B2 thỏa thuận mua bán dâm với 01 người đàn ông không quen biết. Lúc này H1 trong quán, C đứng ở ngoài quán và T1, L2 thỏa thuận mua dâm với V2 và T2, L3 thỏa thuận mua dâm với T3, B2 thỏa thuận với khách. Sau đó, C chở gái bán dâm đến nhà nghỉ Đ1 để thực hiện việc mua bán dâm. Tại quầy lễ tân theo sự sắp xếp của H để từng cặp lên các phòng thực hiện việc mua bán dâm thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về TTXH Công an thành phố H phối hợp với Công an xã T, huyện T, Hà Nội kiểm tra, phát hiện.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T, Đặng Xuân D1, Trần Văn T khai nhận: Khoảng tháng 09/2023, Đặng Xuân D1 đến làm công việc đưa đón, giám sát gái bán dâm đi bán dâm cho Trần Văn T là chủ quán cafe trá hình tên Cây B3 tại số D đường C, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Tặng đã thỏa thuận trước với Trương Ngọc H về việc nhân viên nữ của T chỉ bán dâm tại nhà nghỉ Đ1 của H. Ngoài ra, D1 có trách nhiệm thống kê số lượt bán dâm của gái trong ngày rồi sẽ nhắn tin qua ứng dụng zalo cho T biết. Hàng ngày, quán C5 của T mở cửa hoạt động từ 18h30 phút đến 4h sáng ngày hôm sau. Quán C5 của T gồm có Nông Thị T4, Hoàng Thị N, Bạc Thị T6 và một số nhân viên nữ khác. Nếu có khách đến đặt vấn đề mua dâm thì gái bán dâm thỏa thuận giá bán dâm với khách 250.000 đồng/1 lần mua dâm nhanh (trong thời gian tối đa 30 phút và chỉ được quan hệ một lần, gái bán dâm được hưởng số tiền 130.000 đồng, T được hưởng số tiền 120.000 đồng). D1 được T thuê tiền lương là 250.000 đồng/ngày, D1 làm cho T từ tháng 09/2023 đến khi bị bắt. Tổng số tiền D1 thu lợi bất chính là 5.000.000 đồng, tổng số tiền T thu lợi bất chính là 45.000.000 đồng. Khoảng 21h ngày 02/11/2023, khi D1 đang ở quán C5 thì có Nguyễn Thế Đ đến hỏi mua dâm Nông Thị T4, Nguyễn Xuân H2 đến hỏi mua dâm Hoàng Thị N, Nguyễn Vĩ D5 đến hỏi mua dâm Bạc Thị T6. Sau đó, D1 chở T4, N, T6 đến nhà nghỉ Đ1 theo sự sắp xếp phòng của H để gái bán dâm lên phòng bán dâm cho khách. Lúc này, D1 đứng đợi tại nhà nghỉ Đ1 để đón nữ nhân viên bán dâm xong rồi chở về quán thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về TTXH Công an thành phố H phối hợp với chính quyền địa phương xã T, huyện T, Hà Nội kiểm tra, phát hiện.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T, Trương Ngọc H khai nhận: Khoảng tháng 09/2023, H được một người không quen biết thuê quản lý sắp xếp phòng cho khách và thu tiền tại nhà nghỉ Đ1 ở ngõ A đường C, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Khoảng 21h ngày 02/11/2023, có 06 đôi nam nữ đến thuê phòng trong đó H chỉ biết Nông Thị T4 đến bán dâm cho khách, do T4 là nhân viên bán dâm của T, T kinh doanh môi giới mại dâm. Số tiền thu được từ việc kinh doanh nhà nghỉ H đã chuyển lại cho chủ nhà nghỉ Đ1. Đối với các cặp bán dâm khác thì H không biết mà chỉ cho thuê phòng bình thường.
Đối với hành vi bán dâm của Bạc Thị T6, Hoàng Thị N, Nông Thị T4, Nguyễn Thị T2, Hoàng Thị T3, Tôn Thị V2, Quàng Thị B2, ngày 27/03/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã ra quyết định xử lý hành chính những đối tượng này.
Đối với hành mua dâm của Nguyễn Vĩ D5, Đỗ Tùng L3, Nguyễn Xuân H2, Nguyễn Tiến L2, Tồng Minh T7, Nguyễn Thế Đ, ngày 20/03/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã ra quyết định xử lý hành chính những đối tượng này.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 thu giữ của Bạc Thị T6, 01 chiếc điện thoại Oppo A83 thu giữ của Quàng Thị B2, 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 thu giữ của Tôn Thị V2, 01 chiếc điện thoại Oppo thu giữ của Hoàng Thị T3, 01 chiếc điện thoại Iphone 6 và 01 chiếc điện thoại Oppo thu giữ của Nguyễn Thị T2 ngày 10/11/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã trả lại cho các đối tượng trên.
Đối với các tài liệu, đồ vật đã thu giữ là vật chứng của vụ án, cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Đức D4, quá trình điều tra D4 đã bỏ đi khỏi nơi cư trú nên ngày 29/03/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T tách vụ án hình sự đối với hành vi của D4 để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ.
Tại bản cáo trạng: số 147 - CT-VKSTT ngày 15/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố Trương Ngọc H về tội "Chứa mại dâm" theo điểm c, d khoản 2 Điều 327 - Bộ luật hình sự; truy tố Ma Thị H1, Nguyễn Viết C về tội “Môi giới mại dâm” theo điểm d,đ,e khoản 2 Điều 328- bộ luật hình sự; truy tố Đặng Xuân D1, Trần Văn T về tội “Môi giới mại dâm”, quy định tại điểm d,đ khoản 2 Điều 328- bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo Trương Ngọc H, Ma Thị H1, Nguyễn Viết C, Đặng Xuân D1, Trần Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, thừa nhận tội danh bị truy tố là đúng, tỏ ra ăn năn hối cải xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c, d khoản 2 Điều 327 - Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trương Ngọc H. Xử phạt bị cáo Trương Ngọc H, từ 05 (năm) 06 (sáu) tháng đến 06 (sáu) năm tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38, điểm h Điều 52, điểm d, đ, e khoản 2 Điều 328 – Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ma Thị H1. Xử phạt bị cáo Ma Thị H1 từ 55 đến 58 tháng tù. Bị cáo H1 còn phải chấp hành 08 tháng tù treo thành 08 tháng tù giam của bản án số 54/2022/HSST ngày 13/04/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh. Buộc bị cáo phải chấp hành hai bản án từ 63 đến 66 tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38, điểm d, đ, e khoản 2 Điều 328 – Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Viết C. Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết C từ 45 đến 50 tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38, điểm d, đ khoản 2 Điều 328 – Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Xuân D1 và Trần Văn T. Xử phạt bị cáo Đặng Xuân D1 từ 45 đến 50 tháng tù. Xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 45 đến 50 tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì truy thu sung công quỹ nhà nước: Bị cáo Ma Thị H1 thu lời bất chính là 150.000.000đồng, do đó cần suy thu sung công quỹ Nhà nước.
Bị cáo Trần Văn T thu lời bất chính số tiền là 45.000.000đồng, do đó cần truy thu sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo Đặng Xuân D1 thu lời bất chính số tiền là 5.000.000đồng, do đó cần truy thu sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo Trương Ngọc H thu lời bất chính số tiền là 330.000đồng, do đó cần truy thu sung quỹ Nhà nước.
Số tiền 900.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị T2, Tôn Thị V2, Bạc Thị T6 là thu lời bất chính, do đó cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Tịch thu tiêu hủy 03 bao cao su đã qua sử dụng.
Trả lại bị cáo H1 01 điện thoại Iphone màu trắng đã qua sử dụng.
Trả lại chị Hoàng Thị N 01 điện thoại Samsung, màu trắng đã qua sử dụng.
Trả lại chị Nông Thị T4 01 điện thoại Samsung, màu xanh đã qua sử dụng.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 xe máy nhãn hiệu Honda RSX Wave màu đen, biển số 33R4-9086; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ đen gắn liền biển kiểm soát 99G1- 49710 đã qua sử dụng; 01 điện thoại Samsung màu hồng đã qua sử dụng, 01 điện thoại Oppo, màu xanh đã qua sử dụng: 01 điện thoại Iphone 6S đã qua sử dụng.
Các bị cáo không có việc làm và không có thu nhập, nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Căn cứ kết quả thẩm tra chứng cứ và xét hỏi tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Xét thấy lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên toà là phù hợp lời khai của người làm chứng (là gái bán dâm và khách mua dâm), biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng tháng 5/2023, Ma Thị H1 mở quán café trá hình tại số A Cầu B, xã T, T, Hà Nội nhưng không kinh doanh café mà H1 tuyển Tôn Thị V2, Hoàng Thị T3, Nguyễn Thị T2, Quảng Thị B4 và một số nhân viên nữ để làm gái mại dâm. Sau khi thảo thuận với khách về việc mua bán dâm thì Nguyễn Viết C là người đưa đón gái bán dâm đi bán dâm tại nhà nghỉ Đ1 do Trương Ngọc H quản lý, sắp xếp.
Khoảng tháng 9/2023, Đặng Xuân D1 đến làm công việc đưa đón gái bán dâm đi bán dâm tại nhà nghỉ do Trương Ngọc H quản lý, sắp xếp và giám sát gái bán dâm cho Trần Văn T là chủ quán café trá hình tên Cây B3 tại số D đường C, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Tại quán có Nông Thị T4, Hoàng Thị N, Bạc Thị T6 và một số nhân viên nữ.
Hồi 21 giờ 30 phút, ngày 02/11/2023, tại nhà nghỉ Đ1 ở ngõ A đường C, xã T, huyện T, Hà Nội, theo sự sắp xếp của phòng, quản lý của
Hồi 21h30 phút, ngày 02/11/2023, tại nhà nghỉ Đ1 ở ngõ A đường C, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội, theo sự sắp xếp phòng, quản lý của Trương Ngọc H, Ma Thị H1 và Nguyễn Viết C đã có hành vi môi giới mại dâm cho Tống Minh T1 mua bán dâm với Tôn Thị V2 tại phòng 202, Nguyễn Tiến L2 mua bán dâm với Nguyễn Thị T2 tại phòng 401, Đỗ Tùng L3 mua bán dâm với Hoàng Thị T3 tại phòng 201, Quàng Thị B2 thỏa thuận mua bán dâm với 01 người đàn ông không quen biết tại phòng 101 với giá 250.000 đồng/01 lượt. Cùng thời điểm này, Đặng Xuân D1 có hành vi giúp sức cho Trần Văn T môi giới mại dâm để Nguyễn Thế Đ mua dâm Nông Thị T4 tại phòng 302, Nguyễn Xuân H2 mua dâm Hoàng Thị N tại phòng 301, Nguyễn Vĩ D5 mua dâm Bạc Thị T6 tại phòng 102 với giá 250.000 đồng/01 người/ 01 lượt. Khi các đối tượng đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị Công an kiểm tra, bắt giữ.
Tổng số tiền thu lời bất chính của Ma Thị H1 từ việc môi giới mại dâm trong khoảng thời gian từ tháng 05/2023 đến ngày 02/11/2023 là 150.000.000 đồng.
Tổng số tiền thu lời bất chính của Trần Văn T là 45.000.000 đồng, Đặng Xuân D1 là 5.000.000 đồng.
Đối chiếu pháp luật Trương Ngọc H đã phạm tội "Chứa mại dâm" được quy định tại điểm c,d khoản 2 Điều 327 - Bộ luật hình sự. Các bị cáo Ma Thị H1, Nguyễn Văn C2 phạm tội “Môi giới mại dâm” được quy định tại điểm d,đ,e khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự; Các bị cáo Đặng Xuân D1, Trần Xuân T8 về tội “Môi giới mại dâm” quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 328- Bộ luật hình sự.Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có cơ sở pháp lý.
Mại dâm là một tệ nạn xã hội, nó không chỉ làm băng hoại đạo đức và lối sống, gây tan vỡ nhiều hạnh phúc gia đình mà còn là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm. Hành vi của các bị cáo gây mất trật tự trị an xã hội, là tác nhân tạo điều kiện cho tệ nạn mại dâm phát triển. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, cần xử lý bằng pháp luật hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo Trương Ngọc H, Nguyễn Viết C, Trần Văn T và Phạm Xuân D6 không có.
- Bị cáo Ma Thị H1 có 01 tiền án (chưa xóa án tích), lần này phạm tội là tái phạm .
- Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Nguyễn Viết C, Trần Văn T và Phạm Xuân D6 không có tiền án, tiền sự thể hiện có nhân thân tốt.
- Về nhân thân: Bị cáo Trương Ngọc H có 04 tiền án (đã xóa án tích) và 02 tiền sự (đã xóa), thể hiện nhân thân xấu.
- Bị cáo Ma Thị H1 có 01 tiền án (đã xóa án tích), lần này phạm tội là tái phạm.
- Bị cáo Trần Văn T đã có 01 tiền sự (đã xóa).
- Các bị cáo Nguyễn Viết C và Phạm Xuân D6 chưa có tiền án, tiền sự.
Để có tiền, các bị cáo Trương Ngọc H, Nguyễn Viết C, Trần Văn T và Phạm Xuân D6 không chịu lao động, làm ăn lương thiện mà lại kiếm tiền bằng cách kinh doanh trên thân xác của người phụ nữ thể hiện ý thức coi thường đạo đức con người, đạo đức xã hội, coi thường pháp luật. Để trừng trị đồng thời cải tạo giáo dục bị cáo và làm bài học răn đe cho người khác, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Khi quyết định hình phạt, có xem xét các tình tiết: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Các bị cáo Trương Ngọc H, Nguyễn Viết C, Trần Văn T và Phạm Xuân D6 phạm tội do trục lợi, nhưng không có nghề nghiệp. Do đó không áp dụng phạt bổ sung một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo Ma Thị H1 thu được số tiền thu lời bất chính là 150.000.000đồng, do đó cần suy thu sung công quỹ Nhà nước.
Bị cáo Trần Văn T thu lời bất chính số tiền là 45.000.000đồng, do đó cần truy thu sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo Đặng Xuân D1 thu lời bất chính số tiền là 5.000.000đồng, do đó cần truy thu sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo Ma Thị H1 thu được số tiền thu lời bất chính là 330.000 đồng, do đó cần suy thu sung công quỹ Nhà nước.
Về vật chứng:
Số tiền 900.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị T2, Tôn Thị V2, Bạc Thị T6 là thu lời bất chính, do đó cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
03 bao cao su đã qua sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Xe máy nhãn hiệu Honda RSX Wave màu đen, biển số 33R4-9086; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ đen gắn liền biển kiểm soát 99G1- 49710 đã qua sử dụng. Các bị cáo C và D1 đã dùng làm công cụ phương tiện, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại Samsung màu hồng của đã qua sử dụng Ma Thị H1, 01 điện thoại Oppo, màu xanh của đã qua sử dụng Nguyễn Văn C2, 01 điện thoại Iphone 6S của đã qua sử dụng của Đặng Xuân D1 là tài sản của các bị cáo dùng dùng làm công cụ để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
01 điện thoại Iphone màu trắng đã qua sử dụng của Ma Thị H1, 01 điện thoại Samsung, màu trắng đã qua sử dụng của chị Hoàng Thị N, 01 điện thoại Samsung, màu xanh đã qua sử dụng của chị Nông Thị T4, là tài sản cá nhân không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho H1, N, T4.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Trương Ngọc H phạm tội "Chứa mại dâm".
Tuyên bố: Bị cáo Ma Thị H1, Nguyễn Viết C, Đặng Xuân D1, Trần Văn T phạm tội “Môi giới mại dâm”.
Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 327; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 - Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trương Ngọc H.
Xử phạt: Trương Ngọc H 62 (sáu mươi hai) tháng tù về tội "Chứa mại dâm". Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam ngày 17/5/2024.
Áp dụng điểm d,đ, e khoản 2 Điều 328, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điểm h Điều 52, Điều 56, Điều 65 - Bộ luật hình sự đối với Ma Thị H1.
Áp dụng điểm d,đ, e khoản 2 Điều 328, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 - Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Viết C.
Áp dụng điểm d,đ khoản 2 Điều 328, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 - Bộ luật hình sự đối với Đặng Xuân D1 và Trần Văn T.
Xử phạt: Ma Thị H1 60 (sáu mươi) tháng tù về tội "Môi giới mại dâm". Bị cáo còn phải chấp hành 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thành 08 (tám) tháng án giam (bản án số 54/ 2022/HSST ngày 13/04/2022). Buộc bị cáo phải chấp hành tổng hình phạt của hai bản án là 68 (sáu mươi tám) tháng tù. Được trừ thời giam tạm giữ từ ngày 21/01/2022 đến ngày 28/01/2022 của bản án số 54/2022/HSST ngày 13/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Thời hạn tù tính từ ngày bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam ngày 02/11/2023.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết C 54 (năm mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam ngày 02/11/2023.
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 48 (bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đầu thú tạm giữ, tạm giam ngày 17/5/2024.
Xử phạt bị cáo Đặng Xuân D1 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 29/01/2024.
Về vật chứng: Căn cứ điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sư.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 900.000 đồng (Theo uỷ nhiệm chi số 108 ngày 15/07/2024)
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 Xe máy nhãn hiệu Honda RSX Wave màu đen, biển số 33R4-9086; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ đen gắn liền biển kiểm soát 99G1- 49710 đã qua sử dụng; 01 điện thoại Samsung màu hồng đã qua sử dụng, 01 điện thoại Oppo, màu xanh đã qua sử dụng: 01 điện thoại Iphone 6S đã qua sử dụng. (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/8/2024).
- Tịch thu tiêu huỷ 03 bao cao su đã qua sử dụng. (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/8/2024).
- Trả lại Ma Thị H1 01 điện thoại Iphone màu trắng đã qua sử dụng. (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/8/2024).
- Trả lại chị Hoàng Thị N 01 điện thoại Samsung, màu trắng đã qua sử dụng. (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/8/2024).
- Trả lại chị Nông Thị T4 01 điện thoại Samsung, màu xanh đã qua sử dụng. (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/8/2024).
- Truy thu sung quỹ Nhà nước: bị cáo Ma Thị H1 số tiền là 150.000.000đồng.
- Truy thu sung quỹ Nhà nước: bị cáo Trần Văn T số tiền là 45.000.000đồng.
- Truy thu sung quỹ Nhà nước: bị cáo Đặng Xuân D1 thu lời bất chính số tiền là 5.000.000đồng.
- Truy thu sung quỹ Nhà nước: bị cáo Trương Ngọc H thu lời bất chính số tiền là 330.000 đồng.
Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm
Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ.
Về quyền thi hành án: Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định của Toà án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhân
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa. Nguyễn Thị Kim Liên |
Bản án số 166/2024/HSST ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (về tội chứa mại dâm và môi giới mại dâm)
- Số bản án: 166/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Về tội Chứa mại dâm và Môi giới mại dâm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Môi giới mại dâm
