|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 166/2024/HS-ST Ngày 07 tháng 11 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Quốc Việt.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Nam và bà Phan Hoàng Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phan Ý Vy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thọ - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 171/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 177/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Văn P, sinh ngày 20/4/1982 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Tổ A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Phú C (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1952; bị cáo chưa có vợ con;
Nhân thân: Ngày 16 tháng 11 năm 2005, bị Ủy ban nhân dân thành phố L quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh, thời hạn 12 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 18 tháng 01 năm 2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 18 tháng 02 năm 2007 chấp hành xong (Tài sản trị giá 525.000 đồng). Ngày 10 tháng 9 năm 2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 05 tháng 6 năm 2008 chấp hành xong (Tài sản trị giá 207.000 đồng). Đã được xóa án tích theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 33/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 81/2024/HS-ST ngày 16/8/2024, bị cáo bị Tòa án thành phố C, tỉnh An Giang xử phạt 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản".
Tiền án:
Tại Bản án sơ thẩm số: 26/2021/HSST ngày 09/4/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” (thực hiện hành vi phạm tội ngày 01/6/2024). Tổng hợp hình phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án sơ thẩm số: 35/2020/HSST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn (thực hiện hành vi phạm tội ngày 28/6/2020). Hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là 03 năm tù. Đến ngày 28 tháng 3 năm 2023 chấp hành xong.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/3/2024 đến nay trong vụ án khác. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh A.
Bị hại: Bùi Văn H, sinh năm 1966. Địa chỉ: Số B, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Điện thoại: 0799.153.xxx. (vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Hoàng C1, sinh năm 1989. Địa chỉ: Số D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
Người làm chứng: Ông Ngô Tấn T. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 22 tháng 3 năm 2024, Trần Văn P trên đường đi bộ về nhà, phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 67L1-2456 của anh Bùi Văn H, địa chỉ B, khóm T, phường M, thành phố L dựng trong sân nhà, không người trông giữ. P nảy sinh ý định lấy trộm xe, dùng chân đạp vào tay cầm của xe để mở khóa cổ xe, ngồi lên xe dùng chân đẩy ra ngoài câu điện nổ máy, điều khiển khoảng 30 mét, thì anh Ngô Tấn T (hàng xóm anh H) phát hiện tri hô và đến thông báo cho anh H biết để đến Công an phường M trình báo.
Đến khoảng 18 giờ ngày 22 tháng 3 năm 2024, P đang điều khiển thì bị đứt dây sên, P gửi xe tại tiệm sửa xe của anh Nguyễn Hoàng C1, gần cầu R, phường M, thành phố L thuê sửa và hẹn 21 giờ cùng ngày sẽ đến nhận xe. Đến 21 giờ, anh C1 không thấy P quay lại nên nghi vấn và đến Công an phường giao nộp xe mô tô trên.
Vật chứng thu giữ: 01 xe 67L1-2456, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh, số khung 368791, số máy 3068822.
Tại Kết luận định giá tài sản số 86/KL-HĐĐGTS ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố L xác định: 01 xe mô tô biển số 67L1-2456, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh, số khung 368791, số máy 3068822, trị giá 7.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác.
Tại Cáo trạng số: 180/CT-VKSLX-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố Trần Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn P khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.
Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra trình bày nội dung phù hợp với Cáo trạng nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Văn P từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, về các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.
Tại phiên tòa, Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Người làm chứng vắng mặt, dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Trần Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 11 giờ, ngày 22 tháng 3 năm 2024, bị cáo Trần Văn P thực hiện hành vi lấy trộm 01 xe 67L1-2456, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh, số khung 368791, số máy 3068822 của anh Bùi Văn H, trị giá 7.000.000 đồng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Hành vi của bị cáo Trần Văn P đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, mặc dù đã nhiều lần bị xử phạt về tội trộm cắp tài sản nhưng vẫn tiếp tục vi phạm pháp luật. Vì vậy, cần phải xét xử thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác với lỗi cố ý. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Xét thấy, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2007/HSST ngày 18/01/2007 và Bản án hình sự sơ thẩm số: 134/2008/HSST ngày 10/9/2008, giá trị mỗi lần phạm tội dưới 2.000.000 đồng, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt. Căn cứ điểm e Điều 1 Nghị quyết số 33/2009/QH12 ngày 19/6/2009 bị cáo đương nhiên được xóa án tích.
Tuy nhiên, bản án hình sự sơ thẩm số 26/2021/HSST ngày 09/4/2021 xác định bản án năm 2007 là dấu hiệu định tội của bản án năm 2008 và bản án năm 2008 là tiền án là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm trong bản án số 26. Dẫn đến bản án hình sự sơ thẩm số 81/2024/HSST ngày 16/8/2024 áp dụng tình tiết tăng nặng định khung tái phạm nguy hiểm là chưa phù hợp. Do đó, trong lần xét xử này xác định bản án năm 2007, 2008 đương nhiên được xóa án tích. Nên bản án số 26 ngày 09/4/2021, chấp hành xong ngày 28/3/2023 được xác định là đã bị kết án chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với Bản án số 35 ngày 29/9/2020 xét xử lần phạm tội ngày 28/6/2020 là thực hiện sau lần phạm tội vào ngày 01/6/2020 được xét xử theo Bản án số 26 ngày 09/4/2021 và được xác định trong phần nhân thân của bản án số 26. Bản án số 81 ngày 16/8/2024 xét xử lần phạm tội vào ngày 23/3/2024 là thực hiện sau lần phạm tội vào ngày 22/3/2024 được xét xử lần này và được xác định trong phần nhân thân của bản án.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người rất xem thường pháp luật nên việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô máy 67L1-2456, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh, số khung 368791, số máy 3068822 đã trả lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết tiếp.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Các đương sự không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Văn P 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Văn P phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Quốc Việt |
Bản án số 166/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 166/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Văn Phước phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
