Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 166/2024/HS-PT

Ngày: 02/5/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Chí Công

Các Thẩm phán: ông Phạm Việt Cường và ông Phạm Tồn

Thư ký phiên tòa: bà Văn Thị Mỹ Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa:

ông Đoàn Minh Lộc - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử công khai theo thủ tục phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 471/2023/TLPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Lương Văn Q và các bị cáo khác bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử về tội “Hủy hoại rừng”, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2023/HS-ST ngày 20 tháng 7 năm 2023.

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Lương Văn Q, sinh ngày 08/8/1978, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn A, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Công an viên xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn T và bà Ngân Thị H (đều đã chết); có vợ là Đinh Thị C, sinh năm 1977 và 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/3/2023, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
  2. Lê Văn Ú, sinh ngày 01/5/1980, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn A, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn G và bà Lò Thị H1 (đều đã chết); có vợ là Lò Thị K, sinh năm 1982 và 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/3/2023, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
  3. Trương Văn S, sinh ngày 15/9/1977, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn A, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn N (đã chết) và bà Lương Thị Ứ, sinh năm 1932; có vợ là Lương Thị V, sinh năm 1978 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/3/2023, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
  4. Lương Văn Q1, sinh ngày 09/01/1997, tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: thôn A, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn T1, sinh năm 1969 và bà Hà Thị P, sinh năm 1971; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/3/2023, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
  5. Hà Văn P1, sinh ngày 29/7/1983, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn A, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Xuân T2 (đã chết) và bà Hà Thị C1, sinh năm 1948; có vợ là Lê Thị T3, sinh năm 1983 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/3/2023, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
  6. Hà Văn Q2, sinh ngày 21/02/1967, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn A, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn B và bà Lò Thị H2 (đều đã chết); có vợ là Lương Thị G1, sinh năm 1966 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/3/2023, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
  7. Hà Phúc H3, sinh ngày 15/01/1978, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn A, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn N1 và bà Hà Thị T4 (đều đã chết); có vợ là Vi Thị X, sinh năm 1978 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/3/2023, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
  8. Lang Văn N2, sinh ngày 01/01/1975, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn A, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lang Đình N3, sinh năm 1942 và bà Lang Thị X1 (đã chết); có vợ là Lò Thị D, sinh năm 1975 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/3/2023, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
  9. Lương Văn B1, sinh ngày 17/8/1972, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn A, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Quốc S1 và bà Vi Thị H4 (đều đã chết); có vợ là Lương Thị K1, sinh năm 1977 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/3/2023, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
  10. Vi Hồng Đ, sinh ngày 30/5/1970, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn A, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Quyết C2 và bà Lương Thị L (đều đã chết); có vợ là Hà Thị T5, sinh năm 1970 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/3/2023, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
  11. Hà Văn V1, sinh ngày 08/01/1968, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn A, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn C3 (đã chết) và bà Vi Thị T6, sinh năm 1952 và có vợ là Lê Thị H5, sinh năm 1967 và 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/3/2023, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
  12. Lang Văn Đ1, sinh ngày 14/9/1982, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn A, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam con ông Lang Thanh L1, sinh năm 1947 và bà Lang Thị L2, sinh năm 1950; có vợ là Lương Thị D1, sinh năm 1988 và 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/3/2023, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
  13. Hà Minh T7, sinh ngày 04/02/1979, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn A, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam con ông Hà Văn H6 (đã chết) và bà Hà Thị E, sinh năm 1953; có vợ là Phạm Thị T8, sinh năm 1977 và 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/3/2023, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
  14. Lương Văn T9, sinh ngày 03/6/1996, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn A, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn T10, sinh năm 1967 và bà Hà Thị S2 (đã chết); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/3/2023, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
  15. Vi Văn Đ2, sinh ngày 14/6/1989, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn A, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn P2, sinh năm 1967 và bà Lương Thị N4, sinh năm 1969; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/10/2022, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
  16. Lương Văn H7, sinh năm 1978, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn A, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam con ông Lương Văn K2 (đã chết) và bà Vi Thị T11, sinh năm 1940; có vợ là Lò Thị H8, sinh năm 1979 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/10/2022, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
  17. Hà Ngọc D2, sinh ngày 20/01/1991, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn A, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Ngọc S3, sinh năm 1971 và bà Hà Thị M, sinh năm 1971; có vợ là Y V2, sinh năm 1994 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/10/2022, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
  18. Vi Văn H9, sinh ngày 26/9/1992, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn A, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn M1, sinh năm 1963 và bà Lang Thị T12, sinh năm 1966; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/10/2022, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
  19. Đỗ Quang G2, sinh ngày 01/7/1990, tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: thôn A, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Quang H10, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị V3, sinh năm 1964; có vợ là Lữ Thị T13, sinh năm 2003 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/10/2022, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
  • Người bào chữa cho bị cáo Lương Văn Q: Luật sư Nguyễn Văn Úl - Trung tâm T21; địa chỉ: Tổ A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; có mặt tại phiên tòa.
  • Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn Ú: ông Nguyễn Hữu H11 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ; có mặt tại phiên tòa.
  • Người bào chữa cho các bị cáo Hà Văn V1, Hà Minh T7: bà Phan Thị T14 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ; có mặt tại phiên tòa.
  • Người bào chữa cho các bị cáo Vi Văn Đ2, Hà Ngọc D2: ông Trần Trung H12 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ; có đơn xin xét xử vắng mặt và gửi luận cứ bào chữa cho các bị cáo.
  • Người bào chữa cho các bị cáo Vi Văn H9, Vi Hồng Đ3: bà Nguyễn Thị Bích N5 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ; có mặt tại phiên tòa.
  • Người bào chữa cho các bị cáo Đỗ Quang G2, Lương Văn Q1, Lương Văn B1, Lương Văn T9: bà Nguyễn Thị Thu T15 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ; có mặt tại phiên tòa.
  • Người bào chữa cho các bị cáo Trương Văn S, Lang Văn Đ1: ông Hoàng Văn C4 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ; có mặt tại phiên tòa.
  • Người bào chữa cho các bị cáo Hà Văn P1, Hà Văn Q2, Hà Phúc H3: ông Ngô Đình K3 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ; có mặt tại phiên tòa.
  • Người bào chữa cho bị cáo Lang Văn N2: ông Phùng Văn H13 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ; có mặt tại phiên tòa.

Cùng địa chỉ tại: số C đường L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

  • Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Người đại diện theo pháp luật: ông Đặng Công T16; chức vụ: Chủ tịch; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn có đất để canh tác nên trong khoảng tháng 3/2022, các bị cáo Vi Văn Đ2, Lương Văn H7, Hà Ngọc D2, Vi Văn H9, Đỗ Quang G2, Lang Văn K4, Vi Văn T17, Lang Q, Vi Văn Đ2, Hứa Văn L3, Lương Văn Q, Lê Văn Ú, Trương Văn S, Lương Văn Q1, Hà Văn P1, Hà Văn Q2, Hà Phúc H3, Lang Văn N2, Lương Văn B1, Lang Văn P3, Vi Hồng Đ3, Hà Văn V1, Lang Văn Đ1, Lê Văn D3, Vi Văn V4, Hà Minh T7, Trương Văn T18, Lương Văn T9 và Lang Văn Y đã có hành vi sử dụng cưa xăng và dao hủy hoại rừng sản xuất, loại rừng tự nhiên thuộc tiểu khu B đang do UBND xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk quản lý, với diện tích cụ thể như sau:

  • Nhóm thứ nhất gồm: Lương Văn Q, Lang Văn Y, Lê Văn Ú, Lang Văn Đ1, Lang Văn P3, Hà Phúc H3, Lương Văn B1, Lương Văn T9, Lương Văn Q1, Trương Văn T18, Vi Hồng Đ3, Trương Văn S, Vi Văn V4, Lê Văn D3, Lang Văn N2, Hà Văn Q2, Hà Văn P1, Hà Minh T7 và Hà Văn V1.

Vào tháng 3/2022, Lương Văn Q, Lang Văn Y là các hộ dân thuộc nhóm hộ của bà Vi Thị M2 (trước đây nhóm hộ Vi Thị M2 được Nhà nước giao khoản quản lý, bảo vệ rừng tại Tiểu khu B, xã Y Mốt; đến năm 2019, UBND huyện E đã thu hồi đất, rừng giao cho UBND xã Y Mốt quản lý, các hộ dân chưa được bồi thường nên chưa trả lại đất) đi thăm đất rừng của nhóm hộ thì biết được khu vực này đang bị nhiều đối tượng cưa hạ cây rừng để chiếm đất. Thấy vậy, Q, Y đã rủ các hộ trong nhóm hộ gồm: Lê Văn Ú, Lang Văn Đ1, Lang Văn P3, Hà Phúc H3, Lương Văn B1, Lương Văn T9, Lương Văn Q1, Trương Văn T18, Vi Hồng Đ3, Trương Văn S, Vi Văn V4, Lê Văn D3, Lang Văn N2, Hà Văn Q2, Hà Văn P1, Hà Minh T7 và Hà Văn V1 cùng đi cưa hạ cây rừng để chiếm đất mà trước đây được giao quản lý. Q nói: “Ai có cưa xăng thì mang cưa, ai có dao thì mang dao; người không có cưa thì đi theo người có cưa để thay nhau cưa hạ cây rừng, người không biết sử dụng cưa thì phụ cầm can xăng, can nhớt, nước uống đi theo người cầm cưa, người có sức khỏe yếu thì làm nhiệm vụ nấu ăn, cảnh giới đề phòng lực lượng chức năng kiểm tra” và hẹn gặp nhau tại khu vực Suối tre, gần khu N mộ, Tiểu khu B, xã Y Mốt. Sau đó cả 19 người cùng mang theo công cụ, phương tiện đi vào Tiểu khu B để cưa hạ cây rừng, trong đó: Lương Văn Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, màu đen, biển kiểm soát 47P1-255.63, mang theo 01 con dao; Lê Văn Ú mang theo 01 cưa xăng, 01 con dao; Trương Văn S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đen trắng, biển kiểm soát 47P1-237.68, mang theo 01 cưa xăng; Lương Văn Q1 mang theo 01 can nhựa; Hà Văn P1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu JIU LONG, màu nâu, biển kiểm soát 47H9-2489, mang theo 01 cưa xăng, 01 can nhựa; Hà Văn Q2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 47P1-084.18, mang theo 01 con dao, 01 đèn pin đội đầu; Lang Văn N2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Angel, màu ghi, biển kiểm soát 47K8-9040, mang theo 01 đèn pin đội đầu, 01 cái võng; Lương Văn B1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng xanh, biển kiểm soát 47P1-188.80, mang theo 01 cưa xăng, 01 con dao; Lang Văn P3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu WAND, màu nâu, biển kiểm soát 47P1-6692, mang theo 01 đèn pin đội đầu; Vi Hồng Đ3 điều khiển xe gắn máy nhãn hiệu Vietthai Sirius PC, màu xanh đen, biển kiểm soát 47AB-968.21, mang theo 01 con dao, 01 đèn pin đội đầu, 01 nồi gang, 01 cái chén; Hà Văn V1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển kiểm soát 47P1-268.81, mang theo 01 cưa xăng; Lang Văn Đ1 mang theo 01 con dao, 01 đèn pin đội đầu; Hà Minh T7 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, màu đỏ đen, biển kiểm soát 47P1-261.94, mang theo 01 can nhựa; Lang Văn Y điều khiển xe gắn máy nhãn hiệu HDYA Sirus RC, màu đen đỏ, biển kiểm soát 47AB-968.59; Lê Văn D3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển kiểm soát 47P1-305.36; Vi Văn V4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 47P1-225.21; Lương Văn T9 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda JC43, màu đỏ bạc đen, biển kiểm soát 47N2-5709; Hà Phúc H3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 47P1-187.35. Đến khoảng 18 giờ một ngày trong tháng 3/2022 (không nhớ rõ thời gian cụ thể), cả nhóm đi vào khu vực Ngầm mộ thuộc Tiểu khu B, xã Y Mốt rồi tập trung nấu ăn, uống rượu. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, cả nhóm tự phân chia nhiệm vụ cho nhau rồi bắt đầu đi cưa hạ cây rừng đến khoảng 02 giờ sáng ngày hôm sau thì nghỉ. Khoảng 21 giờ cùng ngày thì lại bắt đầu cưa hạ cây rừng tại khu vực rừng ngày hôm trước đã cưa hạ, đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì trời mưa to nên cả nhóm không cưa nữa rồi cùng nhau đi về. Đến khoảng 18 giờ ngày tiếp theo, cả nhóm cùng với Vi Văn H14, Hà Văn H15 đi vào khu vực Ngầm mộ để cưa hạ cây rừng; trong lúc ngồi uống rượu với nhau thì xảy ra mâu thuẫn cãi nhau nên H14 và H15 đi về trước, sau đó cả nhóm cũng đi về, không cưa hạ cây rừng nữa.

Quá trình cưa hạ cây rừng, cả nhóm thống nhất cùng nhau tiến hành cưa hạ tất cả các cây rừng đang còn trên đất (cắt trắng) người không có cưa thì đi theo người có cưa để thay nhau cưa hạ cây rừng, người không biết sử dụng cưa thì phụ cầm can xăng, can nhớt, nước uống đi theo người cầm cưa, người có sức khỏe yếu thì làm nhiệm vụ nấu ăn, cảnh giới đề phòng lực lượng chức năng kiểm tra phát hiện. Trong đó: Trương Văn S, Lương Văn Q1, Hà Văn P1, Hà Phúc H3, Lương Văn B1, Lang Văn Đ1, Hà Minh T7 thay nhau sử dụng cưa xăng để cưa hạ các cây lớn; Lương Văn Q, Lê Văn Ú, Hà Văn Q2 sử dụng dao để chặt hạ các cây nhỏ; Lang Văn P3, Trương Văn T18, Lương Văn T9 mang theo can xăng, can nhớt, nước uống để phục vụ việc cưa hạ cây rừng; Lang Văn N2, Vi Hồng Đ3, Hà Văn V1, Vi Văn V4, Lang Văn Y làm nhiệm vụ cảnh giới; Lê Văn D3 làm nhiệm vụ nấu ăn.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 12/4/2022 (có sự tham gia của Lương Văn Q đã trực tiếp chỉ dẫn ranh giới), đã xác định khu vực mà nhóm của Lương Văn Q cưa phá cây rừng là tại K tiểu khu B, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Ngày 10/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành lập biên bản xác định hiện trường có sự tham gia của Lương Văn Q, Lang Văn Y, Lê Văn Ú, Lang Văn Đ1, Lang Văn P3, Hà Phúc H3, Lương Văn B1, Lương Văn T9, Lương Văn Q1, Trương Văn T18, Trương Văn S, Vi Văn V4, Lê Văn D3, Lang Văn N2, Hà Văn Q2, Hà Văn P1, Hà Minh T7. Các bị cáo đã trực tiếp chỉ dẫn ranh giới, khu vực mà cả nhóm đã cưa phá cây rừng phù hợp với vị trí, diện tích theo kết quả khám nghiệm hiện trường.

Bản Kết luận giám định ngày 05/5/2022 của Giám định viên thuộc lĩnh vực đo đạc, bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ và Giám định viên thuộc lĩnh vực Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đ kết luận: diện tích rừng bị hủy hoại là 52.622m² (năm mươi hai nghìn sáu trăm hai mươi hai mét vuông); thuộc các Lô 44a, 53, 45, 34, 51, 46, 43a, 44, 52, 65, 46a, 76, 43, K, Tiểu khu B xã Y, huyện E; tổng số lượng 505 gốc cây và 212 lóng gỗ tròn; tổng trữ lượng thiệt hại 16,096m³/5,262 hecta; tổng khối lượng thiệt hại 7,621m³/212 lóng gỗ tròn; chủng loại gồm: C, C, D4, N6, C, B, Thẩu Tấu thuộc các Nhóm gỗ: Nhóm I, III, V, VI, VII, VIII; căn cứ vào các tiêu chí trên, xác định diện tích trên đủ tiêu chí là R; loại rừng: Rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng rụng lá chưa có trữ lượng; mục đích sử dụng là Rừng sản xuất; Chủ quản lý là UBND xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Tại Kết luận định giá tài sản số 3001 ngày 30/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Đắk Lắk kết luận: Diện tích rừng 52.622m²=5,262 ha tại thời điểm định giá tháng 4/2022 có giá trị là 19.740.000 đồng.

  • Nhóm thứ hai gồm: Lang Văn K4, L4 và Vi Văn T17:

Vào khoảng 08 giờ một ngày giữa tháng 3/2022, L4 đến nhà Lang Văn K4 chơi, tại đây K4 rủ Phòng vào khu vực rừng tại tiểu khu B, xã Y, huyện E cưa hạ cây rừng để lấy đất canh tác thì P4 đồng ý. Khoảng 15 giờ cùng ngày, K4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A, màu xanh bạc đen, biển kiểm soát 47P1-300.75 và Phòng điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu xanh xám, biển kiểm soát 47P1-293.10 mang theo cưa xăng, đèn pin đội đầu, can nhựa đựng xăng, nhớt và võng, màn đi vào Tiểu khu B. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì đến lán của bố K4 ở trong tiểu khu B. K4 và P4 để xe máy tại lán rồi mang theo cưa, xăng, nhót, đèn pin đội đầu, đi bộ theo đường mòn. Khi đi tới lán của của Vi Văn T17 tại Tiểu khu B thì K4 và P4 gặp T17 đang ở trong lán, K4 rủ T17 đi cưa hạ cây rừng để lấy đất canh tác thì T17 đồng ý và mang theo cưa xăng, đèn pin đội đầu để cùng K4 và Phòng cưa hạ cây rừng. Cả ba đi tiếp một đoạn thì đến khu vực rừng chưa bị cưa hạ, lúc này K4, P4 và T17, mỗi người sử dụng 01 cưa xăng đi dàn hàng ngang với nhau cưa hạ toàn bộ cây rừng. Khi cưa hạ cây rừng được khoảng 30 phút thì cưa xăng của K4 bị hư nên K4 mang can xăng, can nhớt đi theo để khi nào Phòng hoặc T17 mệt thì K4 sẽ thay người đó cầm cưa tiếp tục cưa hạ cây rừng. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày thì cả ba người đi về nghỉ. Khoảng 17 giờ ngày hôm sau K4, P4 và T17 tiếp tục đến khu vực rừng ngày hôm trước rồi sử dụng cưa xăng cưa hạ cây rừng đến khoảng 19 giờ cùng ngày thì nghỉ.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 13/4/2022 (có sự tham gia của Lang Văn K4), đã xác định vị trí rừng các bị cáo cắt hạ tại khoảnh 2, tiểu khu B, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Ngày 10/5/2022, Lang Văn K4, L4 và Vi Văn T17 đã tiến hành chỉ dẫn Cơ quan Cảnh sát điều tra đến tại hiện trường các bị cáo cắt hạ cây rừng và xác định ranh giới, khu vực mà nhóm của K4 đã cưa phá cây rừng, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường.

Kết luận giám định ngày 29/4/2022 của Giám định viên thuộc lĩnh vực đo đạc, bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ và Giám định viên thuộc lĩnh vực Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đ kết luận: diện tích rừng bị hủy hoại là 12.448,96m² (mười hai nghìn bốn trăm bốn mươi tám phẩy chín mươi sáu mét vuông); thuộc các Lô 66a69, 66aa, 66b, 70b, 66ba, 58a23a, 66a, 69aa, 65 khoảnh 2, tiểu khu B, xã Y, huyện E; tổng số lượng cây và gốc cây bị cắt hạ là 145 cây và 90 lóng gỗ tròn; tổng trữ lượng thiệt hại là 6,841 m³/1,244 ha; tổng khối lượng thiệt hại là 4,087m³/90 lóng; chủng loại gồm: C, B, B, C, C, D4, N6, C, G3, G4, Bồ K5, B2, M, X2, Thẩu T19 thuộc các Nhóm gỗ I, IIA, III, V, VI, VII, VIII; căn cứ vào các tiêu chí trên, xác định diện tích trên đủ tiêu chí là R; loại rừng: Rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng rụng lá chưa có trữ lượng; mục đích sử dụng là Rừng sản xuất; Chủ quản lý là UBND xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Tại Kết luận định giá tài sản số 3001 ngày 30/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Đắk Lắk kết luận: Diện tích rừng 12.448,96m² = 1,244ha tại thời điểm định giá tháng 4/2022 có giá trị là 7.465.000 đồng.

  • Nhóm thứ ba gồm: Vi Văn Đ2, Lương Văn H7 và Hà Ngọc D2:

Vào một ngày trong tháng 3/2022 (không nhớ rõ thời gian cụ thể), Vi Văn Đ2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen đỏ, biển kiểm soát 47P1-019.59 mang theo cưa xăng, các can nhựa đựng xăng, nhớt đi đến tiểu khu B, xã Y, huyện E để cưa hạ cây rừng lấy đất trồng trọt (khu vực đất trước đây cha của Đ2 là Vi Văn P2 được Nhà nước giao khoán quản lý, bảo vệ rừng khoảng 7,5 ha thuộc nhóm hộ của ông Lang Thanh B3; đến năm 2019, UBND huyện E đã thu hồi đất, rừng giao cho UBND xã Y Mốt quản lý). Khoảng 12 giờ cùng ngày, Đ2 đi đến lán của Lương Văn H7 ở tiểu khu B, xã Y, huyện E thì gặp Lương Văn H7 và Hà Ngọc D2. Tại đây, Đ2 rủ D2 và H7 đi cưa hạ cây rừng tại tiểu khu B, xã Y Mốt để lấy đất canh tác, thì cả hai đồng ý. Đ2 thoả thuận sẽ chia cho D2 03 ha, Đ2 lấy 4,5ha, còn H7 tham gia cưa hạ cây rừng để trả công cho Đ2 do trước đây Đ2 có làm công dọn bờ hồ cho H7. Khoảng 16 giờ hai ngày sau, Đ2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47P1-019.59, còn D2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wayxin, màu nâu, biển kiểm soát 47N2-0967 đi đến lán của H7. Sau đó, Đ2, D2 và H7 mang theo cưa xăng, đèn pin đội đầu, xăng, nhớt đi bộ đến vị trí đất rừng trong tiểu khu B, cách lán của H7 800m để cưa hạ cây rừng. Đến nơi thì H7 cưa hạ cây rừng dọc đường biên để làm ranh giới, còn Đ2, D2 cưa hạ cây rừng phía trong bên cạnh H7; cả ba người dàn hàng ngang đi với nhau, cưa hạ toàn bộ cây rừng, đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày thì nghỉ. Ngày hôm sau, Đ2, D2 và H7, mỗi người tiếp tục sử dụng 01 cưa xăng để cưa hạ cây rừng dọc theo đường biên mà ngày hôm trước chưa cưa xong từ khoảng 15 giờ đến 17 giờ cùng ngày thì nghỉ. Ngày tiếp theo, Đ2, D2 và H7, mỗi người tiếp tục sử dụng 01 cưa xăng để cưa hạ cây rừng còn lại từ khoảng 16 giờ đến 17 giờ 20 phút cùng ngày thì nghỉ. Trên đường về phát hiện còn sót một số cây chưa cắt hạ nên Đ2 và D2 tiếp tục quay lại cưa hạ những cây còn sót lại.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 12/4/2022 (có sự tham gia của Vi Văn Đ2, Hà Ngọc D2, Lương Văn H7), đã xác định vị trí mà nhóm của Đ2, D2 và H7 đã trực tiếp cưa hạ cây rừng là tại khoảnh 2 và 4 tiểu khu B, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Bản Kết luận giám định ngày 12/5/2022 của Giám định viên thuộc lĩnh vực đo đạc, bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ và Giám định viên thuộc lĩnh vực Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đ kết luận:

  • Vị trí 1: Diện tích rừng bị hủy hoại 18.924 m² (mười tám nghìn chín trăm hai mươi bốn mét vuông); thuộc các Lô 85b1, 88, Khoảnh 2 và các Lô 6, 23, Khoảnh 4, Tiểu khu B xã Y, huyện E; Tổng số lượng cây và gốc cây bị cắt hạ là 365 gốc cây và 132 lóng gỗ tròn; tổng trữ lượng thiệt hại 17,013 m³/365 cây; tổng khối lượng thiệt hại 4,009 m³/132 lóng gỗ tròn; chủng loại gồm: C, C, C, M, N6, Thẩu T19, B, C, D4 thuộc các Nhóm gỗ: Nhóm I, III, V, VI, VII, VIII; căn cứ vào các tiêu chí trên, xác định đủ tiêu chí là R; loại rừng: Rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng rụng lá chưa có trữ lượng; mục đích sử dụng là Rừng sản xuất; Chủ quản lý là UBND xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Tại Kết luận định giá tài sản số 3001 ngày 30/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Đắk Lắk kết luận: Diện tích rừng 18.924 m²= 1,892ha tại thời điểm định giá tháng 4/2022 có giá trị là 18.565.000 đồng.

  • Vị trí 2: Diện tích bị hủy hoại: 64.746,5 m²; thuộc các Lô 74a, 75, 76, 81, 81a, 85, 85a80, 85b1, 88, Khoảnh 2 và các Lô 6, 7, 23, K, Tiểu khu B; tổng số lượng cây và gốc cây 306 cây và 168 lóng gỗ tròn; tổng khối lượng thiệt hại 4,217 m³/168 lóng gỗ tròn; tổng trữ lượng thiệt hại 10,149 m³/306 cây; chủng loại: C, C, C, M, N6, Thẩu T19, B, C, D4 thuộc các Nhóm gỗ: Nhóm I, III, VI, VII, VII; căn cứ vào các tiêu chí trên, xác định diện tích trên không đủ tiêu chí là Rừng, là đất trống có cây gỗ tái sinh; mục đích sử dụng là Rừng sản xuất; Chủ quản lý là UBND xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Tại Kết luận định giá tài sản số 3001 ngày 30/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Đắk Lắk kết luận: Diện tích rừng 6,475 ha có tổng trữ lượng 10,149m³ là đất trống cây gỗ tái sinh, không đủ tiêu chí là rừng. Hội đồng định giá từ chối định giá vì không đủ tiêu chí là rừng.

  • Nhóm thứ tư gồm: Vi Văn H9, Đỗ Quang G2 và Hứa Văn L3:

Vào một ngày giữa tháng 3/2022 (không nhớ rõ thời gian cụ thể), Vi Văn H9 và Đỗ Quang G2 đi vào khu vực đất thuộc Tiểu khu B, xã Y Mốt (khu vực trước đây cha của H9 là Vi Văn M1 được Nhà nước giao khoán quản lý, bảo vệ rừng thuộc nhóm hộ của ông Vi Viết H16; đến năm 2019, UBND huyện E đã thu hồi đất, rừng giao cho UBND xã Y Mốt quản lý). Vị trí khu đất giáp hồ nên H9 và G2 đã làm lán để giữ đất, lấy đất canh tác. Khoảng 02 ngày sau khi làm lán xong, H9 nói G2 lấy phần đất của hộ Lang Đình C5 (là bác của H9 nhưng đã chết), trước đây cũng được Nhà nước giao khoán quản lý tại Tiểu khu B, xã Y thì G2 đồng ý. Ngày 19/3/2022, H9 mang theo cưa xăng, đèn pin đội đầu, 01 con dao rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu xanh trắng, biển kiểm soát 59H1-235.24 chở G2 đi vào khu đất định chiếm giữ, đến khoảng 17 giờ thì đến nơi, G2 thấy cây rừng xung quanh bị cưa hạ nhiều nên nói H9 cưa hạ cây rừng làm ranh giới để người khác không vào chiếm đất thì H9 đồng ý. H9 và G2 thay nhau sử dụng cưa xăng cưa hạ cây rừng theo đường thẳng để làm ranh giới. Khi sử dụng hết 01 bình xăng thì H9, G2 đi về lán của H9 để ngủ. Đến khoảng 05 giờ sáng ngày hôm sau, H9 tiếp tục sử dụng cưa xăng cưa hạ cây rừng theo đường thẳng để làm ranh giới còn G2 đi cảnh giới đề phòng lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện. H9 sử dụng hết 01 bình xăng thì cả hai đi về. Mấy ngày sau, G2 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu ITEL, màu đen, gắn sim thuê bao số 0902586262 gọi vào sim thuê bao số 0987469040 gắn trên điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A52S 5G, màu tím của Vi Văn H9 nói với H9 người ta cưa cây nhiều quá nên vào cưa hết cây để người ta khỏi chiếm đất thì H9 đồng ý. Ngày 22/3/2022, G2 tiếp tục gọi điện thoại nói H9 vào cưa hạ cây rừng, đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì H9 sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 59H1-235.24 mang theo cưa xăng đến chòi rẫy của G2 thì thấy G2 và Hứa Văn L3. Tại đây G2 thoả thuận thuê L3 đi cưa hạ cây rừng với giá 500.000 đồng/đêm thì L3 đồng ý. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, H9 mang theo cưa xăng cùng G2, Lưu đi vào Tiểu khu B để cưa hạ cây rừng nhưng khi đến nơi thì G2 bị mệt không tham gia được nên cả ba đi về. Đến khoảng 14 giờ ngày 25/3/2022, G2 gọi L3 đi vào cưa hạ cây rừng giúp thì L3 đồng ý. H9 mang theo các can nhựa đựng xăng, nhớt rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 59H1-235.24 chở G2, còn L3 điều khiển xe gắn máy biển kiểm soát 47AB-965.16 tiếp tục đi vào Tiểu khu B để cưa hạ cây rừng, khi đến nơi thì cả ba người tập trung nấu ăn, nghỉ ngơi đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì bắt đầu đi cưa hạ cây rừng. Trong đó, G2 đi cảnh giới, H9 cầm cưa xăng đi trước cưa hạ cây rừng, còn L3 mang can xăng, can nhớt đi theo H9; khi H9 mệt thì L3 thay H9 cầm cưa xăng tiếp tục cưa hạ cây rừng. H9 và L3 thay nhau cầm cưa xăng cưa hạ toàn bộ cây rừng đến khoảng 04 giờ sáng ngày hôm sau thì nghỉ.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 12/4/2022 (có sự tham gia của và trực tiếp chỉ dẫn vị trí, ranh giới của Vi Văn H9, Đỗ Quang G2 và Hứa Văn L3), đã xác định khu vực mà nhóm của G2, H9, L3 đã cưa phá cây rừng là tại khoảnh 1 tiểu khu B, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Tại Biên bản kiểm tra hiện trường ngày 24/3/2023 tại K, tiểu khu B, xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk đã xác định được: Diện tích rừng Vi Văn H9 và Đỗ Quang G2 đã cùng cưa hạ vào 02 ngày đầu là 8.499m²; diện tích rừng mà Vi Văn H9, Đỗ Quang G2 và Hứa Văn L3 cùng nhau cưa hạ trong 01 ngày sau là 33.308,5 m².

Bản Kết luận giám định ngày 16/5/2022 của Giám định viên thuộc lĩnh vực đo đạc, bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ và Giám định viên thuộc lĩnh vực Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đ kết luận: Diện tích rừng bị hủy hoại 41.807,5m² (bốn mươi mốt nghìn tám trăm linh bảy phẩy năm mét vuông); vị trí: thuộc các Lô 16, 17, 28, 29, 29a6, 44, 45, 45a, 45a16, 46, 53, 54a, 55a, 55b, K, Tiểu khu B xã Y, huyện E; tổng số lượng cây và gốc cây bị cắt hạ là 536 cây và 243 lóng gỗ tròn; tổng trữ lượng thiệt hại 24,543m³; tổng khối lượng thiệt hại 6,035m³/243 lóng gỗ tròn; chủng loại gồm: C, Giáng H17, C, B, D4, T20, C, G5, N6, Thẩu T19, B2, M, G3 thuộc các Nhóm gỗ: Nhóm I, IIa, III, V, VI, VII, VIII; căn cứ vào các tiêu chí trên, xác định diện tích trên đủ tiêu chí là R; loại rừng: Rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng rụng lá chưa có trữ lượng; mục đích sử dụng là Rừng sản xuất; Chủ quản lý là UBND xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Tại Kết luận định giá tài sản số 3001 ngày 30/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Đắk Lắk kết luận: Diện tích rừng 41.807,5m² = 4,180ha tại thời điểm định giá tháng 4/2022 có giá trị là 26.781.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2023/HS-ST ngày 20/7/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk quyết định:

  1. Tuyên bố các bị cáo: Lương Văn Q, Lê Văn Ú, Trương Văn S, Lương Văn Q1, Hà Văn P1, Hà Văn Q2, Hà Phúc H3, Lang Văn N2, Lương Văn B1, Vi Hồng Đ3, Hà Văn V1, Lang Văn Đ1, Hà Minh T7, Lương Văn T9, Vi Văn Đ2, Lương Văn H7, Hà Ngọc D2, Vi Văn H9, Đỗ Quang G2 phạm tội “Huỷ hoại rừng”.
  2. Về hình phạt:
  • Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 243; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Xử phạt bị cáo Lương Văn Q 06 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/3/2023.
  • Xử phạt bị cáo Trương Văn S 05 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/3/2023.
  • Xử phạt bị cáo Lang Văn Đ1 05 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/3/2023.
  • Xử phạt bị cáo Hà Phúc H3 05 nămtù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 21/5/2022 đên ngày 17/3/2023.
  • Xử phạt bị cáo Lương Văn B1 04 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/3/2023.
  • Xử phạt bị cáo Hà Văn P1 04 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/3/2023.
  • Xử phạt bị cáo Lương Văn Q1 04 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/3/2023.
  • Xử phạt bị cáo Hà Minh T7 04 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/3/2023.
  • Xử phạt bị cáo Hà Văn Q2 04 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 21/5/2022 đên ngày 17/3/2023.
  • Xử phạt bị cáo Lê Văn Ú2 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/3/2023.
  • Xử phạt bị cáo Hà Văn V1 03 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/3/2023.
  • Xử phạt bị cáo Vi Hồng Đ3 03 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/3/2023.
  • Xử phạt bị cáo Lang Văn N2 03 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/3/2023.
  • Xử phạt bị cáo Lương Văn T9 03 năm tù về tội “Hủy hoại rừng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/3/2023.

1.2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 243; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

  • Xử phạt bị cáo Đỗ Quang G2 03 (ba) năm tù về tội “Hủy hoại rừng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/10/2022.

1.3. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 243; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

  • Xử phạt bị cáo Vi Văn H9 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Hủy hoại rừng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/10/2022.

1.4. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 243; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

  • Xử phạt bị cáo Vi Văn Đ2 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Hủy hoại rừng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/10/2022.
  • Xử phạt bị cáo Hà Ngọc D2 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Hủy hoại rừng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/10/2022.
  • Xử phạt bị cáo Lương Văn H7 02 (hai) năm tù về tội “Hủy hoại rừng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 21/5/2022 đến ngày 17/10/2022.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Lương Văn Q, Vi Văn H9, Hà Minh T7, Hà Văn P1, Hà Phúc H3, Hà Văn Q2, Vi Văn Đ2, Hà Ngọc D2, Lương Văn Q1, Lương Văn T9, Lang Văn Đ1, Trương Văn S, Vi Hồng Đ3, Hà Văn V1, Lê Văn Ú, Lang Văn N2, Lương Văn H7, Đỗ Quang G2, Lương Văn B1 được miễn án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao – Vụ GĐKT I;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - Cục THADS tỉnh Đắk Lắk;
  • - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Phòng HSNV - Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Cơ quan CSTHAHS - CA tỉnh Đắk Lắk;
  • - Người tham gia tố tụng (theo địa chỉ);
  • - Lưu HSVA, PHCTP, LT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 166/2024/HS-PT ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG về hủy hoại rừng

  • Số bản án: 166/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hủy hoại rừng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lương Văn Q, Vi Văn H9, Hà Minh T7, Hà Văn P1, Hà Phúc H3, Hà Văn Q2, Vi Văn Đ2, Hà Ngọc D2, Lương Văn Q1, Lương Văn T9, Lang Văn Đ1, Trương Văn S, Vi Hồng Đ3, Hà Văn V1, Lê Văn Ú, Lang Văn N2, Lương Văn H7, Đỗ Quang G2, Lương Văn B1, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2023/HS-ST ngày 20/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger