TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 166/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30/9/2024 V/v: Ly hôn. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đầu Khắc Dinh Ông Lê Quang Vinh
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Hồng Minh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá, tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thanh T - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 128/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024, về việc: “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/9/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 124/2024/QĐ-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1989, vắng mặt.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Chỗ ở hiện nay: Số C, đường D, ngõ H, quận L, thành phố Đ, Đài Loan (Trung Quốc).
Người đại diện theo ủy quyền của chị T nhận các văn bản tố tụng của Tòa án:
1. Ông Nguyễn Văn S.
Địa chỉ: Khu C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
2. Ông Hoàng Kim C.
Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắc Nông.
(Theo Giấy ủy quyền ngày 06/6/2024).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc S1, sinh năm: 1988, vắng mặt.
Trú tại: Xóm B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 06/6/2024, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày:
1. Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Ngọc S1 đăng ký kết hôn tháng 8 năm 2011 trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu. Anh chị đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Cả chị và anh Nguyễn Ngọc S1 đều có hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Năm 2020 chị xuất cảnh sang Hàn Quốc theo diện xuất khẩu lao động. Đến cuối năm 2023 chị sang Đài Loan (Trung Quốc). Anh Nguyễn Ngọc S1 thì hiện nay đang ở xóm B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Tuy nhiên, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh ngay sau khi kết hôn được một thời gian ngắn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau về quan điểm, lối sống, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không ai quan tâm đến ai. Mâu thuẫn hôn nhân đã được hai vợ chồng tự hòa giải và được hai bên gia đình hòa giải, hàn gắn nhưng không thành. Chị và anh S1 đã sống ly thân một thời gian dài, vợ chồng không có sự chia sẻ, hàn gắn, không còn quan tâm đến nhau. Chị ở nước ngoài, còn anh S1 ở Việt Nam nên vợ chồng không có điều kiện gần gũi, quan tâm, chia sẻ cũng như hàn gắn tình cảm nên tình cảm vợ chồng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn mà không có hướng hòa giải thỏa đáng. Vợ chồng chị kết hôn gần 14 năm nay nhưng không có con chung, vợ chồng thật sự không thể hòa hợp; không có con cái nên không có ràng buộc, níu kéo; mâu thuẫn hôn nhân thật sự không thể hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn, chỉ còn ràng buộc nhau bởi tờ giấy đăng ký kết hôn; đời sống chung của tôi và anh S1 không thể kéo dài thêm được nữa.
Nay xét thấy cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị TAND Tỉnh Thanh Hóa giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc S1.
2. Về con chung: Chị và anh Nguyễn Ngọc S1 không có con chung với nhau nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp: Chị không yêu cầu Tòà án giải quyết.
* Bà Trần Thị N trình bày:
Bà là mẹ đẻ của anh Nguyễn Ngọc S1, chị Nguyễn Thị T là con dâu của bà.
1. Về hôn nhân: Anh S1 và chị T yêu nhau và tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng anh S1, chị T sống tại nhà bà ở thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa 01 năm, sau đó cả hai vợ chồng anh S1 vào miền N làm việc. Khoảng năm 2020, chị T đi xuất khẩu lao động, anh S1 trở về nhà bà sinh sống. Từ khi chị T đi xuất khẩu lao động, anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do khoảng cách địa lý và bất đồng quan điểm sống. Hai bên gia đình đã cố gắng hàn gắn nhưng anh chị không đồng ý đoàn tụ. Nay chị T có đơn xin ly hôn anh S1, tôi đã thông báo cho anh S1 và anh S1 cũng đồng ý ly hôn.
2. Về con chung: Vợ chồng anh S1 không có con chung.
3. Về tài sản, công nợ chung: Anh S1 và chị T không có tài sản, công nợ chung nên anh S1 không có ý kiến gì.
Hiện nay anh S1 đang đi làm tự do trong miền nam, bà không biết địa chỉ cụ thể. Nhưng bà vẫn liên lạc được với anh S1 thông qua điện thoại. Bà thay mặt anh S1 nhận các văn bản của Toà án và có trách nhiệm thông báo lại cho anh S1 biết.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị T, xử cho chị T được ly hôn anh S1. Căn cứ các Điều 51; 56 Luật Hôn nhân gia đình. Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền của Tòa án:
Chị Nguyễn Thị T là nguyên đơn đang cư trú tại Đài Loan, bị đơn là anh Nguyễn Ngọc S1 đăng ký hộ khẩu tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Do trong vụ án có nguyên đơn cư trú ở nước ngoài. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
[1.2]. Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn: Bị đơn là anh Nguyễn Ngọc S1 đã được Toà án tống đạt hợp lệ nhiều lần thông qua mẹ đẻ anh S1 là bà Trần Thị N, nhưng anh S1 không có mặt tại Toà án và trình bày quan điểm. Bà Trần Thị N trình bày hiện nay anh S1 đang làm tự do trong miền nam nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể của anh S1 trong miền N. Tuy anh S1 thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng cố tình không cung cấp địa chỉ của anh hiện nay. Bà Trần Thị N vẫn thường xuyên liên lạc với anh S1 nên đã nhận các văn bản tố tụng để thông báo cho anh S1. Vì vậy, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.
[1.3]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T có đơn xin xử vắng mặt; bị đơn là anh Nguyễn Ngọc S1 mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Ngọc S1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp.
Trong lời khai, các tài liệu gửi đến Tòa án, chị T đều trình bày vợ chồng chị mâu thuẫn và ly thân nhiều năm nay, không còn quan tâm đến nhau. Do mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã không liên hệ với nhau. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh S1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị T được ly hôn anh S1.
[2.2]. Về con: Không có con chung.
[2.3]. Về tài sản, công nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xét. Anh S1 không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên sau này nếu anh S1 yêu cầu thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
[3]. Về án phí: Chị T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp.
[4]. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 273; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.
- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Ngọc S1.
- Về tài sản: Không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo Biên lai thu số 427 ngày 16/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
3. Quyền kháng cáo:
Anh Nguyễn Ngọc S1 có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 01 tháng ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- - TAND cấp cao tại Hà Nội;
- - VKSND tỉnh Thanh Hoá (P9);
- - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
- - UBND xã Nghi Lâm, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An;
- - Các đương sự;
- - Tổ HC-TP; - Lưu hồ sơ vụ án;
- - Lưu Tòa GD & NCTN.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Lê Thị Thủy | |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Lê Quang Vinh Đầu Khắc Dinh | Lê Thị Thủy |
Bản án số 166/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn
- Số bản án: 166/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn vì mâu thuẫn gia đình
