TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:166/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22 - 5 - 2024 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hồng Vân
Các Hội thẩm nhân dân Ông Võ Duy Bảo
Bà Bùi Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 04/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2023, về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Trần Duy K, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Xóm C, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1994.
Địa chỉ trước xuất cảnh: Xóm C, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, trình bày tại bản tự khai nguyên đơn anh Trần Duy K trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 19 tháng 10 năm 2015, tại Ủy ban nhân dân xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không cùng quan điểm sống, chị T không chịu làm ăn, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Năm 2023, chị T đi xuất khẩu lao động tại Mỹ. Thời gian đầu hai vợ chồng có thường xuyên liên lạc với mong muốn níu kéo tình cảm. Tuy nhiên, do khoảng cách địa lý, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, anh và chị T không liên lạc với nhau, không quan tâm lẫn nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh K làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị Trà.
Về con chung: Anh Trần Duy K và chị Nguyễn Thị T có hai con chung là Trần Đăng K1, sinh ngày 23/12/2017 và Trần Việt H, sinh ngày 30/3/2022, hiện các cháu đang ở với bố. Ly hôn, anh K có nguyện vọng Tòa án giao hai con chung cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh K chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là chị Nguyễn Thị T: Quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, bị đơn là chị Nguyễn Thị T vắng mặt. Anh Trần Duy K không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay chị T cư trú, anh chỉ biết hiện nay chị T đang sinh sống tại Mỹ. Tòa án đã hai lần gửi văn bản yêu cầu ông Trần Duy T1 và bà Hoàng Thị H1 (Là bố mẹ đẻ của chị T), trú tại: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cũng như yêu cầu ông bà thông báo với chị T để gửi lời khai về cho Tòa án. Tuy nhiên, tại đơn trình bày bà H1 cho biết thời gian ở nước ngoài, chị T thường xuyên liên lạc về với gia đình qua điện thoại còn địa chỉ cụ thể của chị T thì chị T không cung cấp nên bà không biết. Bà đã thông báo cho chị T biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa anh K và chị T. Thông qua bà, chị T đồng ý ly hôn và giao hai con chung cho anh K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Trần Duy K ly hôn với chị Nguyễn Thị Trà. Về con chung: Đề nghị giao con chung Trần Đăng K1, sinh ngày 23/12/2017 và Trần Việt H, sinh ngày 30/3/2022 cho anh Trần Duy K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con: Anh K không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Anh K không yêu cầu nên không xem xét; dành quyền khởi kiện về chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Trần Duy K hiện cư trú tại Việt Nam làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị T hiện cư trú ở nước ngoài; trước khi xuất cảnh, chị T có địa chỉ cư trú tại xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là chị Nguyễn Thị T vắng mặt, Tòa án đã gửi công văn yêu cầu bà Hoàng Thị H1 (Là mẹ ruột của chị T) cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn và thông báo cho chị T biết để gửi lời khai về cho Tòa án. Tuy nhiên, bà H1 không cung cấp được địa chỉ hiện nay của chị T. Đến nay, Tòa án vẫn chưa nhận được văn bản trình bày ý kiến của chị T liên quan đến yêu cầu khởi kiện, nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung, Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại địa chỉ nơi trú cuối cùng của chị T trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn anh Trần Duy K có đơn xin xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Duy K và chị Nguyễn Thị T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 19 tháng 10 năm 2015, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh K và chị T sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì năm 2021 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng không có tiếng nói chung, kinh tế khó khăn. Năm 2023, chị T đi làm ăn tại Mỹ. Từ đó đến nay anh K và chị T không liên lạc với nhau. Xét thấy, anh K và chị T không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H2, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho anh Trần Duy K được ly hôn chị Nguyễn Thị Trà.
[2.2] Về con chung: Anh Trần Duy K và chị Nguyễn Thị T có hai con chung là Trần Đăng K1, sinh ngày 23/12/2017 và Trần Việt H, sinh ngày 30/3/2022. Hiện các con chung đang ở với anh K. Ly hôn, anh K có nguyện vọng giao con chung cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và anh K không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Nguyện vọng của anh K là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện thực tế, vì hiện nay, chị Nguyễn Thị T đang ở nước ngoài và cố tình dấu địa chỉ. Do đó, căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của anh K, giao cho anh K được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Trần Đăng K1, sinh ngày 23/12/2017 và Trần Việt H, sinh ngày 30/3/2022 cho đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con, anh K không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho anh K khi có yêu cầu.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Anh Trần Duy K không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện về tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
[3] Về án phí sơ thẩm: Anh Trần Duy K phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 37, Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 4 Điều 207, Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Duy K.
- - Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Duy K được ly hôn chị Nguyễn Thị Trà.
- - Về con chung: Giao con chung là Trần Đăng K1, sinh ngày 23/12/2017 và Trần Việt H, sinh ngày 30/3/2022 cho anh Trần Duy K được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết.
- Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.
- Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
2. Về án phí: Anh Trần Duy K phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001441 ngày 27/12/2023, tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
3. Anh Trần Duy K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Thái Thị Hồng Vân |
Bản án số 166/2024/HNGĐ-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 166/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
