|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 166/2024/HC-ST Ngày: 13-9-2024 V/v khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Trịnh và ông Đào Văn Sáng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận: Bà Nguyễn Thị Hằng, Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 35/2023/TLST-HC ngày 22/02/2023, về việc “Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2024/QĐXXST-HC ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:
- - Người khởi kiện: Bà Hỏa Thị T, sinh năm 1971.
- Địa chỉ: Khu phố N, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- - Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Lê Văn L - Luật sư, Phó Giám đốc Trung tâm tư vấn pháp luật thuộc Hội luật gia tỉnh B.
-
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H.
- Ủy ban nhân dân huyện H.
- Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn P, chức vụ: Phó Chủ tịch (văn bản uỷ quyền ngày 12/4/2023).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Đăng H, chức vụ: Phó Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện H và bà Đặng Thị Hoàng Y, chức vụ: Giám đốc Trung tâm phát triển quỹ đất huyện H.
1
3. Ông Đinh Văn P1, sinh năm 1969. Địa chỉ: Số B khu phố N, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt bà Hòa Thị T, Luật sư Lê Văn L, ông Nguyễn Đăng H. Những người tham gia tố tụng khác vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/02/2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người khởi kiện bà Hòa Thị T trình bày:
Ngày 14 tháng 11 năm 2017 Chủ tịch UBND huyện H ban hành Quyết định số 3684/QĐ- UBND về việc phê duyệt bồi thường, hỗ trợ đối với hộ bà Hòa Thị T.
Tại Điều 1. Bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện Công trình; C huyện H đối với hộ bà Hỏa Thị T, cư ngụ tại khu phố N, thị trấn T với số tiền 403.318.116 đồng.
Với số tiền bồi thường đất và tài sản trên đất tại thời điểm bồi thường là 403.3218.116 đồng, theo số tiền bồi thường trên, bà chỉ mua được 1 mét đất tương đương với diện tích đất Nhà nước đã thu hồi tại khu vực thị trấn T. UBND huyện H áp giá bồi thường đã thấp lại không cấp đất tái định cư cho bà. Do quyền lợi bị xâm phạm nên ngày 16 tháng 06 năm 2018 bà đã làm Đơn khiếu nại yêu cầu UBND huyện H xem xét lại giá bồi thường đất và tài sản trên đất và cấp đất tái định cư cho bà thì vào ngày 17 tháng 09 năm 2018, Chủ tịch UBND huyện H ban hành Quyết định số 10/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà (lần đầu). Bà không đồng ý với Quyết định số 10 là do áp giá bồi thường qua thấp không đúng với thực tế, không cấp đất tái định cư cho bà, UBND huyện H áp dụng các văn bản trong đó có những văn bản đã cũ không còn phù hợp với thời điểm ban hành quyết định thu hồi đất của bà năm 2017. Trong khi đó căn nhà tại số B đường T khu phố N, thị trấn T là của con trai bà tên Đinh Nhất Đ dù thời hạn cập nhật biến động sau khi có Quyết định số: 474/QĐ-UBND ngày 06/11/2017 của UBND huyện H. Ý định tặng cho đất con trai bà Đinh Nhất Đ là do vợ chồng bà đã có nhà ở ổn định nên đã cho con trai bà thửa đất tại số B đường T, con trai bà đã làm nhà ở ổn định, còn vợ chồng bà ở tại nhà có thửa đất bị thu hồi. Đây là hoàn toàn đúng sự thật, còn chuyển quyền sử dụng đất cho con trai bà năm 2019 không nhằm đối phó. Bởi vì, vợ chồng bà có đất, có nhà ở ổn định và tin tưởng khi Nhà nước thu hồi đất sẽ cấp đất tái định cư.
Do quá bức xúc với Quyết định số 10/QĐ-UBND ngày 17/09/2018 của Chủ tịch UBND huyện H nên vào ngày 16 tháng 10 năm 2018, bà đã làm Đơn khiếu nại gửi Chủ tịch UBND tỉnh B đề nghị xem xét lại Quyết định số 10 của UBND huyện H. Trong quá trình giải quyết đơn khiếu nại của bà, UBND tỉnh B không có quan điểm, đường lối giải quyết của mình mà đồng tình với ý kiến của Chủ tịch UBND huyện H để ban hành Quyết định số: 23/QĐ – UBND ngày 05/01/2022 giải quyết khiếu nại (lần 2). Theo Quyết định số 23 Chủ tịch UBND tỉnh B áp dụng khoản 1, Điều 6, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở thì hộ bà Hỏa Thị T không đủ điều kiện bố trí đất tái định cư.
2
Như vậy, trong qúa trình xác minh, đối thoại, UBND tỉnh không xem xét hoàn cảnh thực tế của gia đình bà và cũng có thể áp dụng khoản 4, Điều 6, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ giải quyết cho trường hợp của bà thấu lý, đạt tình.
Hiện số tiền 430. 318.116 đồng, Nhà nước bồi thường, tái định cư đang gửi tại Kho bạc huyện H. Sau khi biết số tiền bồi thường, tái định cư thì vợ chồng bà xảy ra mâu thuẫn, chồng một nơi, vợ một nơi. Bởi vì, số tiền ít ỏi này không thể mua được đất, không đủ tiền làm nhà, bản thân bà thì mang trong người các chứng bệnh nan y, cứ 20 ngày trong một tháng bà phải ăn ở và điều trị tại bệnh viện, chồng thì làm thủ tục xin ly hôn. Sau khi Nhà nước thu hồi đất thì gia đình bà tan nát không thể hàn gắn, cứu vãn được. Vì lý do trên, bà yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận giải quyết: Hủy Quyết định số 23/QĐ-UBND ngày 05/01/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B.
Người bị kiện có ý kiến tại Văn bản số 375/TTBT-PNV2 ngày 23/3/2023 như sau:
Ngày 10/5/2017, UBND huyện H ban hành Thông báo số 47/TB-UBND thu hồi đất của hộ bà Hòa Thị T để thực hiện Công trình Công viên Trung tâm huyện H (sau đây gọi tắt là Dự án); tại Thông báo, diện tích dự kiến thu hồi 709,7 m², thửa đất số 40, 56 thuộc tờ bản đồ số 73, tại thị trấn T.
Ngày 18/7/2017, UBND thị trấn T có Giấy xác nhận số 46/GXN, xác nhận nguồn gốc đất, tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 54/752 m² (ODT + CLN) và thửa số 55/20 m² (CLN) đã được cấp Giấy CNQSD đất số BI 311598 và số BI 311599 ngày 25/6/2012.
Ngày 27/7/2017, Hội đồng Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư huyện họp thẩm định kết quả xét tính pháp lý sử dụng đất và tái định cư đối với các hộ dân có đất bị thu hồi. Trong đó, hộ bà Hòa Thị T được Hội đồng kết luận đủ điều kiện bồi thường diện tích đất thu hồi 709,7 m², bồi thường hoa màu, cây trái trên đất 100%, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm (2,5 lần), hỗ trợ di chuyển tài sản theo quy định.
Ngày 15/9/2017, Hội đồng Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư huyện có Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với hộ bà Hỏa Thị T, xác định tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ đối với hộ bà Hòa Thị T là 430.318.116 đồng, không bố trí tái định cư (do bà T còn có nhà ở khác tại số B, đường T, khu phố N, thị trấn T).
Ngày 06/11/2017, UBND huyện H ban hành Quyết định số 474/QĐ-UBND thu hồi diện tích 709,7 m² đất (ODT + LNQ) của hộ bà Hòa Thị T và ngày 14/11/2017, Chủ tịch UBND huyện H ban hành Quyết định số 3684/QĐ-UBND phê duyệt bồi thường, hỗ trợ đối với hộ bà Hỏa Thị T với tổng số tiền 430.318.116 đồng; không bố trí đất tái định cư cho gia đình bà Hỏa Thị T. Bà T không đồng ý nên khiếu nại đến Chủ tịch UBND huyện H; ngày 17/9/2018, Chủ tịch UBND huyện đã ban hành Quyết định số 10/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần đầu (được điều chỉnh tại Quyết định số 12/QĐ-UBND ngày 28/9/2018), không chấp thuận khiếu nại của bà Hòa Thị T và giữ nguyên Quyết định số 3684/QĐ-UBND ngày 14/11/2017 của Chủ tịch UBND huyện. Không đồng ý nội dung giải
3
quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND huyện H, bà T khiếu nại tiếp theo đến Chủ tịch UBND tỉnh; theo đó, bà T đề nghị giải quyết 01 lô đất tái định cư vị trí giáp đường Q cho bà, vì theo bà, nhà đất tại số B, đường T, khu phố N, thị trấn T, vợ chồng bà đang làm thủ tục tặng cho con trai Đinh Nhất Đ nhưng chưa kịp hoàn tất thủ tục sang tên.
Việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với hộ bà Hòa Thị T đã được UBND huyện H thực hiện đúng theo quy định tại Quyết định số 59/2014/QĐ-UBND ngày 26/12/2014 và Quyết định số 10/2017/QĐ-UBND ngày 10/3/2017 của UBND tỉnh B ban hành và điều chỉnh, bổ sung Quy định về Bảng giá các loại đất trên địa bàn tỉnh; Quyết định số 08/2015/QĐ- UBND ngày 02/3/2015 và Quyết định số 05/2018/QĐ-UBND ngày 25/01/2018 của U, bổ sung một số điều Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND, quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất...
Tại thời điểm UBND huyện H thu hồi đất của hộ bà T để thực hiện Dự án, ngoài nhà, đất bị thu hồi, hộ bà Hỏa Thị T còn có nhà ở khác trên địa bàn thị trấn T (nhà số B, đường T, khu phố N, đã được UBND Hàm Thuận Nam cấp GCNQSDĐ số U 200101 ngày 28/01/2002 và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 605982311000016 ngày 09/7/2007). Việc bà Hỏa Thị T làm thủ tục tặng cho con trai là ông Đinh Nhất Đ căn nhà này ngày 11/01/2019 là thực hiện sau khi Chủ tịch UBND huyện H có Quyết định số 474/QĐ-UBND ngày 06/11/2017 về thu hồi đất và có Quyết định số 3684/QĐ-UBND ngày 14/11/2017 phê duyệt bồi thường, hỗ trợ đối với hộ bà Hỏa Thị T.
Theo quy định tại khoản 1, Điều 6, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở thì hộ bà Hòa Thị T không đủ điều kiện bố trí đất tái định cư. Do vậy, Chủ tịch UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 23/QĐ- UBND ngày 05/01/2022, về việc giải quyết đơn khiếu nại của bà Hòa Thị T (lần hai) là đúng quy định pháp luật, cụ thể: Quyết định số 3684/QĐ-UBND ngày 14/11/2017 của Chủ tịch UBND huyện H về việc phê duyệt bồi thường, hỗ trợ đối với hộ bà Hỏa Thị T là đúng quy định tại khoản 1, Điều 6, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở; Quyết định số 10/QĐ-UBND ngày 17/9/2018 của Chủ tịch UBND huyện H về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của bà Hỏa Thị T (được điều chỉnh tại Quyết định số 12/QĐ-UBND ngày 28/9/2018) là đúng quy định pháp luật; việc bà Hỏa Thị T đề nghị giải quyết 01 lô đất tái định cư là không có cơ sở để giải quyết.
Công nhận và giữ nguyên nội dung Quyết định số 10/QĐ-UBND ngày 17/9/2018 của Chủ tịch UBND huyện H về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Hòa Thị T1 (được điều chỉnh tại Quyết định số 12/QĐ- UBND ngày 28/9/2018) đối với Quyết định số 3684/QĐ-UBND ngày 14/11/2017 của Chủ tịch UBND huyện H về việc phê duyệt bồi thường, hỗ trợ đối với hộ bà Hỏa Thị T thuộc Dự án Công trình Công viên Trung tâm huyện H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
4
+ Chủ tịch UBND huyện H có ý kiến tại Văn bản số 860/UBND-TNMT ngày 19/4/2023 như sau:
Ngày 06/11/2017, UBND huyện H ban hành Quyết định số 474/QĐ-UBND về thu hồi diện tích 709,7 m² đất (ODT+LNQ) của hộ bà Hòa Thị T để thực hiện dự án công trình C huyện H. Cùng ngày 06/11/2017, Chủ tịch UBND huyện ban hành Quyết định số 3630/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Công trình Công viên Trung tâm huyện H đợt 02 gồm 12 hộ (trong đó: hộ bà Hòa Thị T được bồi thường, hỗ trợ với tổng số tiền 430.318.116 đồng; không bố trí tái định cư). Ngày 14/11/2017, Chủ tịch UBND huyện H ban hành Quyết định số 3684/QĐ-UBND về phê duyệt bồi thường, hỗ trợ đối với hộ bà Hỏa Thị T với tổng số tiền 430.318.116 đồng.
Ngày 16/6/2018, bà Hòa Thị T có đơn khiếu nại Quyết định số 3684/QĐ-UBND ngày 14/11/2017 về việc phê duyệt, bồi thường, hỗ trợ đối với hộ bà Hỏa Thị T, lý do: Giá bồi thường thấp, không bố trí đất tái định cư cho hộ Bà. Qua kiểm tra, xác minh, kết quả cụ thể như sau”
Đối với đất ở đô thị: Căn cứ Quyết định số 59/2014/QĐ-UBND ngày 26/12/2014 của UBND tỉnh B quy định về giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Thuận (Phụ lục số 7, M, Bảng giá đất ở thị trấn T). Căn cứ khoản 2 Điều 1 Quyết định số 2046/QĐ-UBND ngày 19/7/2017 của UBND tỉnh B quy định “hệ số điều chỉnh là 2,26 đối với đất ở đô thị tại vị trí 1”. Diện tích: 200 m² x đơn giá 360.000đ/m² x hệ số 2,26 ứng với vị trí đường T, tương ứng với số tiền 162.720.000 đồng.
- Đối với đất nông nghiệp: Căn cứ Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND ngày 02/3/2015 của UBND tỉnh B quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; quy trình thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và quy trình Chủ đầu tư thỏa thuận với người sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. Căn cứ điểm c, d khoản 3 Điều 5 Quyết định số 59/2014/QĐ-UBND ngày 26/12/2014 của UBND tỉnh B về việc ban hành Quy định về giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. Căn cứ khoản 3 Điều 1 Quyết định số 2046/QĐ-UBND ngày 19/7/2017 của UBND tỉnh B quy định “hệ số điều chỉnh là 1,83 đất nghiệp trong khu dân cır". Diện tích 509,7 m² x đơn giá bồi thường: (60.000 x 1,1) x hệ số 1,83 ứng với số tiền: 61.561.566 đồng. Như vậy, tổng giá trị bồi thường về đất là: 224.281.566 đồng
- Bồi thường về tài sản: Căn cứ Quyết định số 14/QĐ-UBND ngày 04/5/2017 của UBND tỉnh B quy định về bồi thường thiệt hại đối với tài sản khi Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất, giao mặt bằng để xây dựng các công trình và được áp dụng thống nhất trên địa bàn tỉnh Bình Thuận.
Căn cứ Công văn số 2761/SXD-KT&VLXD ngày 18/8/2017 của Sở Xây dựng tỉnh B về công bố giá các loại vật liệu chủ yếu trong lĩnh vực đầu tư xây dựng tại tỉnh Bình Thuận.
Đối với công trình khác và di dời... được bồi thường 100%. Tổng tiền bồi thường về tài sản (nhà, công trình xây dựng) là: 107.576.050 đồng.
5
- Bồi thường hoa màu, cây trái: Căn cứ Quyết định số 14/QĐ-UBND ngày 04/5/2017 của UBND tỉnh B quy định về bồi thường thiệt hại đối với tài sản khi Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất, giao mặt bằng để xây dựng các công trình và được áp dụng thống nhất trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. Đối với hoa màu, cây trái được xác định tỷ lệ bồi thường 100%. Tổng tiền bồi thường hoa màu, cây trái là: 4.360.000 đồng.
Đối với các khoản hỗ trợ:
Hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm: Căn cứ khoản 1, 2 Điều 24 Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND ngày 02/3/2015 của UBND tỉnh B quy định mức hỗ trợ theo hình thức bằng tiền mức 2,5 (hai phẩy năm) lần giá đất nông nghiệp cùng loại theo bảng giá đất UBND tỉnh quy định đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp thu hồi; diện tích được hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương.
Từ quy định trên, hộ bà T được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm với số tiền là: 84.100.500 đồng (509,7 m² x 60.000 × 1,1 × 2,5).
Hỗ trợ chi phí di chuyển tài sản: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 38 Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND ngày 02/3/2015 của UBND tỉnh B quy định hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất khi Nhà nước thu hồi đất. Từ quy định trên, hộ bà T được hỗ trợ chi phí di chuyển tài sản với số tiền là: 10.000.000 đồng. Tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ (bồi thường về đất + tài sản + hoa màu, cây trái + các khoản hỗ trợ) là: 430.318.116 đồng.
Đề nghị giao đất tái định cư: Căn cứ điểm a, điểm b khoản 1 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở. Căn cứ Giấy xác nhận nguồn gốc đất, tài sản gắn liền với đất của UBND thị trấn T ngày 18/7/2017 thì ngoài căn nhà trên đất bị thu hồi, hộ bà Hỏa Thị T còn nhà ở, đất ở khác trên địa bàn thị trấn T (gia đình bà T còn có nhà, đất tại thửa đất số 16, đo độc lập với diện tích 603 m², mục đích sử dụng: thổ cư 200 m² + đất sản xuất nông nghiệp 403 m² tại thị trấn T, đã được UBND Hàm Thuận Nam cấp GCNQSD đất số U 200101 ngày 28/01/2002).
Từ căn cứ trên, hộ bà T không đủ điều kiện bố trí tái định cư.
Như vậy, Quyết định số 3684/QĐ-UBND ngày 14/11/2017 của Chủ tịch UBND huyện H vê phê duyệt bồi thường, hỗ trợ đối với hộ bà Hòa Thị T với số tiền là: 430.318.116 đồng là đúng quy định của pháp luật.
Ngày 30/8/2018, Chủ tịch UBND huyện H tổ chức đối thoại để giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực hành chính đối với bà Hỏa Thị T. Tại buổi đối thoại, Chủ tịch UBND huyện cùng lãnh đạo các cơ quan chuyên môn đã giải thích cho bà T nghe về những quy định của pháp luật liên quan đến chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; tuy nhiên, bà T không đồng ý.
Ngày 17/9/2018, Chủ tịch UBND huyện H có Quyết định số 10/QĐ-UBND ngày 17/9/2018 (có sửa đổi, bổ sung tại Quyết định số 12/QĐ- UBND ngày 28/9/2018) về việc giải quyết khiếu nại của bà Hòa Thị T1. Theo đó: Không chấp nhận nội dung khiếu nại của bà Hòa Thị T. Giữ nguyên Quyết định số 3684/QĐ-
6
UBND ngày 14/11/2017 của Chủ tịch UBND huyện về việc phê duyệt bồi thường, hỗ trợ đối với hộ bà Hòa Thị T1.
+ Ông Đinh Văn P1 trình bày: nguồn gốc diện tích đất bị thu hồi là do vợ chồng ông nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn N (tên gọi là Sáu N1). Tổng cộng diện tích chúng ông nhận chuyển nhượng của ông N1 qua 4 lần chuyển nhượng là 709,7m². Ông thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà Hỏa Thị T, ông không có ý kiến gì và cũng không yêu cầu gì.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, thực hiện đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung: Việc áp giá bồi thường được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Vào thời điểm UBND huyện H ban hành quyết định thu hồi đất, thì ngoài thửa đất bị thu hồi, gia đình ông T còn sử dụng thửa đất số 16, diện tích 603 m² ở trong đó có 200m² đất ở đã được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi UBND huyện H thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường thì bà T mới tặng cho con trai là Đinh Nhất Đ. Do vậy, UBND huyện H không giao đất tái định cư cho bà T là đúng quy định của pháp luật. Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND tỉnh B là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của bà T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự, và đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét thấy:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 157, khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người tham gia tố tụng này.
- [2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Bà Hỏa Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 23/QĐ-UBND ngày 05/01/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc giải quyết khiếu nại của bà Hòa Thị T. Do đó, quan hệ tranh chấp là khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý đất đai và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 1 Điều 30, các khoản 3, 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.
- [3] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 05/01/2022, Chủ tịch UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 23/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà Hỏa Thị T. Ngày 09/02/2022, bà Hỏa Thị T nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận là còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
- [4] Quyết định hành chính có liên quan: Bà Hỏa Thị T đồng ý với quyết định thu hồi đất của UBND huyện H nhưng không đồng ý việc áp giá bồi thường
7
và bà có yêu cầu giao đất tái định cư. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thuộc thẩm quyền của UBND huyện H, Quyết định số 23/QĐ-UBND ngày 05/01/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B là quyết định giải quyết khiếu nại đối với các quyết định hành chính của UBND huyện H, nên Hội đồng xét xử xác định Quyết định số 3684/QĐ-UBND ngày 14/11/2017 của UBND huyện H về phê duyệt bồi thường, hỗ trợ đối với hộ bà Hỏa Thị T và Quyết định số 10/QĐ-UBND ngày 17/9/2018 của Chủ tịch UBND huyện H về việc giải quyết khiếu nại của bà Hòa Thị T1 là các quyết định hành chính có liên quan.
-
[5] Xét tính pháp lý của Quyết định số 3684/QĐ-UBND ngày 14/11/2017 và Quyết định số 10/QĐ-UBND ngày 17/9/2018.
-
[5.1] Về giá bồi thường.
Ngày 06/11/2017, UBND huyện H ban hành Quyết định số 474/QĐ-UBND về thu hồi diện tích 709,7 m² đất (ODT+LNQ) của hộ bà Hòa Thị T để thực hiện dự án công trình C huyện H.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 62 Luật Đất đai 2013, thì công trình C huyện H thuộc trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai 2013 quy định giá đất bồi thường theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.
Tại thời điểm thu hồi đất, bảng giá đất do UBND tỉnh B quy định theo Quyết định số 59/2014/QĐ-UBND ngày 26/12/2014 và hệ số điều chỉnh giá đất thực hiện theo Quyết định số 2046/QĐ-UBND ngày 19/7/2017 của UBND tỉnh B về việc phê duyệt hệ số điều chỉnh giá đất để thực hiện công tác bồi thường công trình C huyện H.
Xét thấy, việc áp giá bồi thường về đất đã được thực hiện theo đúng các quy định nêu trên. Bà Hỏa Thị T khởi kiện yêu cầu bồi thường theo giá thị trường là không có căn cứ.
Đối với việc bồi thường tài sản trên đất và các khoản hỗ trợ khác, UBND huyện H đã thực hiện theo đúng Quyết định số 14/2017/QĐ-UBND ngày 04/5/2017 và Quyết định số 08/2015/QĐ-UBND ngày 02/3/2015 của UBND tỉnh B.
-
[5.2] Về điều kiện bồi thường bằng đất.
Điểm b khoản 1 Điều 79 Luật Đất đai 2013 quy định: Trường hợp còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.
Điểm b khoản 1 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất:
“Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia
-
[5.1] Về giá bồi thường.
8
đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở".
Ngoài thửa đất bị thu hồi, bà Hỏa Thị T còn có nhà ở tại thửa đất số 16, diện tích 603 m², mục đích sử dụng: thổ cư 200 m², đất sản xuất nông nghiệp 403 m² tại thị trấn T, đã được UBND Hàm Thuận Nam cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U 200101 ngày 28/01/2002. Sau khi có quyết định thu hồi đất, bà T tặng cho con trai là Đinh Nhất Đ, được cập nhật sang tên vào ngày 11/01/2019. Như vậy, tại thời điểm thu hồi đất, bà T có đất ở trong cùng thị trấn với diện tích đất bị thu hồi và địa phương không có quỹ đất để bồi thường nên bà T yêu cầu bồi thường bằng đất là không có căn cứ. Các quyết định về phê duyệt phương án bồi thường thiệt hại và quyết định giải quyết khiếu nại của UBND huyện H là đúng quy định của pháp luật.
-
[6] Xét tính pháp lý của quyết định giải quyết khiếu nại số 23/QĐ-UBND ngày 05/01/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc giải quyết khiếu nại của bà Hỏa Thị T.
Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành quyết định: Thực hiện đúng quy định của Luật Khiếu nại và Nghị định số 124/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Khiếu nại.
Về nội dung: Như đã nhận định ở phần trên, các quyết định hành chính của UBND huyện H giải quyết bồi thường đối với bà Hòa Thị T là đúng quy định của pháp luật. Do vậy, Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai của Chủ tịch UBND tỉnh B không chấp nhận khiếu nại của bà Hòa Thị T là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử thống nhất với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, bác yêu cầu khởi kiện của bà Hòa Thị T.
- [7] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà Hòa Thị T không được chấp nhận nên bà T phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 3 Điều 116, Điều 157, Điều 158, khoản 1 Điều 173, điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính;
- - Khoản 3 Điều 62, khoản 2 Điều 74, điểm b khoản 1 Điều 79 Luật Đất đai 2013;
- - Điểm b khoản 1 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
- - Điều 17, khoản 2 Điều 18, khoản 2 Điều 21, Điều 27, 28, 36, 37, 38 và Điều 39 của Luật Khiếu nại;
9
- - Khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Bác yêu cầu khởi kiện của bà Hòa Thị T yêu cầu huỷ Quyết định số 23/QĐ-UBND ngày 05/01/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B giải quyết khiếu nại lần hai đối với bà Hòa Thị T.
- - Về án phí: Bà Hỏa Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp theo Biên lai số 0008292 ngày 06/02/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận. Bà T đã nộp đủ tiền án phí.
- - Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (13/9/2024); đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quản |
10
Bản án số 166/2024/HC-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 166/2024/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hỏa Thị T - Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận
