Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 166/2024/DS-PT

Ngày: 29/02/2024

V/v “Tranh chấp về thừa kế tài sản".

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Đức;

Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Ngọc Dũng

Bà Nguyễn Thị Rẻn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồ Nhật Hạ – Thư ký Tòa án nhân dân

tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre: Nguyễn Thị Sa Riêng –

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 29 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 523/2023/TLPT-DS ngày 23 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 111/2023/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm: 4588/2023/QĐ–PT ngày 27 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn:

  1. Bà Trần Trà M, sinh năm 1989.
  2. Bà Trần Thúy M1, sinh năm 2000.

Cùng địa chỉ: số A, ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc Như Ý, sinh năm 1992.

Địa chỉ: số E, ấp A, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)

Địa chỉ liên hệ: 33C, ấp M, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre

1

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Lê Tấn D - Văn phòng Luật sư Lê Tấn D, Đoàn Luật sư tỉnh B.

Địa chỉ: Số A, đường T, khu phố B, Phường F, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (Có mặt).

* Bị đơn:

Ông Trần Ngọc M2, sinh năm 1972.

Địa chỉ: số A, ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Trần Thanh G, sinh năm 1978.

Địa chỉ: số G, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre. (Có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Đoàn Thị L, sinh năm 1966.
  2. Địa chỉ: số A, ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre. (Có mặt).

  3. Bà Trần Bích L1, sinh năm 1965. (Có yêu cầu xét xử vắng mặt).
  4. Địa chỉ: số F, đường Q, Phường A, quận G, TP Hồ Chí Minh.

  5. Ông Trần Quốc T, sinh năm 1967. (Có yêu cầu xét xử vắng mặt).
  6. Địa chỉ: số A, đường T, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.

  7. Bà Trần Thị D1, sinh năm 1958. (Có yêu cầu xét xử vắng mặt).
  8. Địa chỉ: số E, ấp P, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Do có kháng cáo của: Bà Trần Trà M, bà Trần Thúy M1 là nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Bà Trần Thị Ngọc Như Ý là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Trần Trà M, Trần Thúy M3:

Ông Trần Văn T1 (chết năm 1980) và vợ là bà Trần Thị H (chết năm 2014) có 05 người con chung, gồm: Trần Minh S (chết năm 2017), Trần Ngọc L2 (chết không có vợ, con), Trần Bích L1, Trần Quốc T và Trần Ngọc M2. Ông Trần Minh S có vợ hợp pháp là bà Đoàn Thị L và 02 con là Trần Trà M và Trần Thúy M1.

Quá trình chung sống ông T1, bà H có tài sản chung là thửa đất số 302, tờ bản đồ số 19, diện tích 1.730,1m² tọa lạc xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre. Năm 1980, ông T1 chết không để lại di chúc, bà H tiếp tục quản lý thửa đất này và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1993. Trên thửa đất có căn

2

nhà, cây trồng và nền mộ. Ông Sơn sống với cha mẹ từ nhỏ, đến năm 1989 chuyển đến huyện M dạy học và kết hôn, chung sống với bà L. Năm 2007, vợ chồng ông S và các con trở về chung sống với bà H. Khi bà H chết thì gia đình ông S tiếp tục quản lý thửa đất 302. Năm 2017, ông S mất thì bà L và 02 con tiếp tục quản lý, sử dụng thửa đất 302. Đầu năm 2020, ông M2 yêu cầu bà L và 02 con di dời đi nơi khác. Lúc này, các nguyên đơn mới biết ông M2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do được bà H tặng cho vào năm 2012. Ngoài thửa đất tranh chấp thì ông T1, bà H còn có thửa đất số 669 và 670, cùng tờ bản đồ 24 nhưng các bên đã thỏa thuận giao cho ông M2, ông M2 cũng đã bán phần đất này và có chia một phần tiền cho mẹ con bà L. Các nguyên đơn không tranh chấp đối với tài sản trên đất là căn nhà và cây trồng, chỉ khởi kiện với các yêu cầu cụ thể sau đây:

Chia thừa kế theo pháp luật di sản của ông T1, bà H để lại là thửa đất 302, tờ bản đồ số 19, diện tích 1730,1m² thành 4 kỷ phần, các nguyên đơn cùng nhận 01 kỷ phần có tổng diện tích là 432,5m² gồm các thửa tạm 302-5-3 diện tích 15,4m²; 302-2-3 diện tích 307,1m²; 302-5-2 diện tích 5,4m²; 302-4-1 diện tích 7,4m²; 302-3-2 diện tích 2,7m² và 302-2-2 diện tích 94,5m² theo họa đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 20/9/2023. Kiến nghị cơ quan chức năng điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 302 cho phù hợp trong trường hợp yêu cầu được chấp nhận.

Trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế thì nguyên đơn yêu cầu được ở lại trên phần đất có chiều ngang 08m chiều dài hết đất (tính từ lộ bê tông trở vô), có tổng diện tích là 322.5m² gồm các thửa tạm 302-5-3 diện tích 15,4m² và 302-2-3 diện tích 307,1m² theo họa đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 20/9/2023. Các nguyên đơn sẽ trả lại giá trị bằng tiền theo giá của Hội đồng định giá đã định.

* Ông Trần Thanh G là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Trần Ngọc M2 trình bày:

Ông Trần Văn T1 và bà Trần Thị H có 07 người con chung là Trần Mạnh H1 (chết không vợ con), Trần Minh S (chết năm 2017, có vợ là Đoàn Thị L cùng 02 con là Trần Trà M và Trần Thúy M1), Trần Ngọc L2 (chết không vợ con), Trần Thị M4 (chết không chồng con), Trần Bích L1, Trần Quốc T và ông Trần Ngọc M2. Ngoài ra, ông M2 có nghe bà D1 kể lại là ông Trần Văn T1 và vợ trước là bà Lê Thị H2 (đã chết) có 05 người con chung là Trần Văn B (chết không vợ con); Trần Văn B Ba đang sống tại huyện L, tỉnh Đồng Nai; Trần Thị L3 đang sống tại huyện Đ, tỉnh Long An; Trần Thị D1 đang sống tại huyện C, tỉnh Bến Tre và Trần Văn L4 đang sống tại huyện B, tỉnh Bình Dương nhưng

3

các anh em của ông chỉ biết bà D1, không có liên hệ gì với những người còn lại nên không biết thông tin về họ tên, năm sinh và địa chỉ hiện nay.

Nguồn gốc thửa đất 302 do ông, bà để lại cho các cô của ông M2. Sau khi ông T1 chết, các cô mới để lại cho bà H2 quản lý tạo thu nhập nuôi các con. Cá nhân bà H2 là người được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu tiên vào năm 1993. Bà H2 canh tác quản lý đất đến năm 2012 thì lập hợp đồng tặng cho ông M2 thửa đất này. Trên đất có 01 căn nhà lá cấp 4, cây trồng và nền mộ nên sau khi tặng cho bà H2 vẫn ở trên đất cùng với vợ chồng và các con ông S. Ông S rất thương ông M2 vì từ khi ông L2 chết, ông M2 là người trực tiếp lo cho mẹ và gia đình. Do đó, lúc còn sống thì bà H2, ông S và tất cả anh chị em trong gia đình đã thống nhất giao thửa đất 302 cho ông M2 để thờ cúng ông bà. Ông S là người trực tiếp giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông M2. Khi ông S chết toàn bộ chi phí tang lễ, mồ mã của ông S đều do ông M2 chi trả nên bà L đã giao lại cho ông M2 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông M2 cũng đã quan tâm, chăm sóc bà L cùng 02 cháu M1 đầy đủ đến khi 02 cháu trưởng thành.

Ông M2 không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn nhưng không yêu cầu phản tố. Chỉ yêu cầu áp dụng thời hiệu phân chia di sản thừa kế của ông T1. Ông M2 không có ý kiến về việc nguyên đơn yêu cầu được trả lại giá trị để được ở lại trên phần đất có tổng diện tích 322.5m² gồm các thửa tạm 302-5-3 diện tích 15,4m² và 302-2-3 diện tích 307,1m² theo họa đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 20/9/2023. Việc nguyên đơn có phải di dời ra khỏi phần đất hay không các bên sẽ tự thương lượng, thỏa thuận sau khi kết thúc vụ án tranh chấp thừa kế. Nếu không thỏa thuận được, ông M2 sẽ giải quyết tranh chấp bằng một vụ án khác.

Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông M2 yêu cầu được nhận kỷ phần thừa kế theo quy định pháp luật. Không yêu cầu gì đối với tài sản trên đất.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị L trình bày:

Bà là vợ ông Trần Minh S, là mẹ của Trần Trà M, Trần Thúy M1. Cha chồng là ông Trần Văn T1 chết năm 1980, mẹ chồng là bà Trần Thị H chết năm 2014.

Bà thống với phần trình bày của nguyên đơn về hàng thừa kế, di sản thừa kế và quá trình quản lý sử dụng thửa đất 302. Thửa đất 302 là tài sản chung của cha mẹ chồng bà, cả hai chết đều không để lại di chúc nên đây là di sản thừa kế. Bà không nhận tài sản thừa kế của ông S mà giao lại cho 02 con nhận.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Quốc T trình bày:

4

Ông thống nhất với lời trình bày của ông M2 về hàng thừa kế và quá trình hình thành nên thửa đất số 302. Trên đất có 01 căn nhà, cây trồng và nền mộ hiện do bà L, ông M2 và ông đang trực tiếp quản lý. Ông có công sức cải tạo, trồng trọt trên đất và ngôi nhà trên đất cũng là do ông xây dựng. Ông S nhập hộ khẩu về Mỏ Cày từ năm 1982, đến năm 2010 mới nhập trở về với cha mẹ. Ông S chết sau mẹ ông 05 năm. Khi ông M2 được cấp giấy chứng nhận quvền sử dụng đất thì giấy tờ do ông S cất giữ, đến khi ông S chết thì bà L giao lại cho ông M2. Ông khẳng định thửa đất 302 là của ông M2 đã được mẹ tặng cho nên không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Bích L1 trình bày:

Bà thống nhất với lời trình bày của ông M2 về hàng thừa kế và quá trình hình thành nên thửa đất số 302. Năm 2012, mẹ bà đã tặng cho ông Trần Ngọc M2 thửa đất 302 có sự đồng ý của tất cả anh chị em trong gia đình. Bà khẳng định thửa đất 302 là tài sản riêng của ông M2 nên không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn. Bà không có yêu cầu đối với phần đất các bên đang tranh chấp nên yêu cầu được giải quyết vắng mặt.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị D1 trình bày:

Bà là con chung của ông Trần Văn T1 và vợ trước là bà Lê Thị H2. Cha mẹ bà có 05 người con chung là: Trần Văn B (chết không vợ con); Trần Văn B Ba đang sống tại huyện L, tỉnh Đồng Nai; Trần Thị L3 đang sống tại huyện Đ, tỉnh Long An, Trần Văn L4 đang sống tại huyện B, tỉnh Bình Dương và bà. Ngoài ra, cha bà còn có 01 người vợ sau là bà Trần Thị H (chết). Cha bà và người vợ sau có 07 người con như bị đơn đã trình bày.

Theo bà thì thửa đất 302 lúc còn sống bà Trần Thị H đã tặng cho ông Trần Ngọc M2 nên không phải là di sản thừa kế. Bà không tranh chấp hay yêu cầu gì đối với thửa đất này nên bà yêu cầu được giải quyết vắng mặt. Do không biết rõ thông tin cụ thể của các anh, em ruột của bà nên không thể cung theo yêu cầu của Tòa án.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn - Luật sư Lê Tấn D trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số 302 là của gia đình ông T1. Năm 1980, khi ông T1 chết không để lại di chúc. Năm 1993 bà H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu tiên do thời điểm này đã hết thời hiệu phân chia di sản thừa kế của ông T1 và bà H là người đang quản lý sử dụng đất. Xét về bản chất thì thửa đất số 302 vẫn là tài sản chung của ông T1 và bà H, việc bà H tặng cho ông M2 thửa đất 302 mà không có sự đồng ý của tất cả các hàng thừa kế của ông T1 và bà H là không phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ

5

yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trường hợp không chấp nhận yêu cầu phân chia di sản thừa kế thì đề nghị chấp nhận cho nguyên đơn được ở lại trên phần đất có tổng diện tích là 322,5m² gồm các thửa tạm 302-5-3 diện tích 15,4m² và 302-2-3 diện tích 307,1m² theo họa đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 20/9/2023, các nguyên đơn sẽ trả lại giá trị bằng tiền theo giá của Hội đồng định giá đã định do ngoài nơi đang ở hiện nay thì các nguyên đơn không còn nơi khác để ở.

Sau khi hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đưa vụ án ra xét xử. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 111/2023/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã tuyên:

Căn cứ:

  • Điều 122 và Điều 689 Bộ Luật dân sự năm 2005.
  • Điều Điều 149 và Điều 623 Bộ Luật dân sự năm 2015.
  • Các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 217 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Trà M, bà Trần Thúy M1 về việc yêu cầu phân chia di sản thừa kế của ông Trần Văn T1 đối với phần đất có diện tích 1.730,1m² thuộc thửa 302, tờ bản đồ số 19 tại xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre hiện do ông Trần Ngọc M2 đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 722969 cấp ngày 05/6/2012 (có kèm theo Họa đồ hiện trạng sử dụng đất).
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Trà M, bà Trần Thúy M1 về việc yêu cầu phân chia di sản thừa kế của bà Trần Thị H đối với phần đất có diện tích 1.730,1m² thuộc thửa 302, tờ bản đồ số 19 tại xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre hiện do ông Trần Ngọc M2 đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 722969 cấp ngày 05/6/2012 (có kèm theo Họa đồ hiện trạng sử dụng đất).

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, tiền chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/10/2023 Bà Trần Trà M, bà Trần Thúy M1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn: Giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị HĐXX xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

6

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, trường hợp nếu như không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, yêu cầu khởi kiện thì nguyên đơn đề nghị được nhận đất và trả lại số tiền bằng với số tiền của Hội đồng định giá đã định.

Bị đơn: Không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng, những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định của pháp luật tố tụng.
  • Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS 2015 đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Trà M, bà Trần Thùy M5. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 111/2023/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre .

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Xét kháng cáo bà Trần Trà M, bà Trần Thùy M5 và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nguyên đơn bà Trần Trà M, bà Trần Thùy M5 kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa bà Trần Trà M, bà Trần Thùy M5 giữ nguyên nội dung kháng cáo theo đơn kháng cáo.

[2] Về hàng thừa kế:

Các đương sự đều thống nhất những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Trần Văn T1 và bà Trần Thị H gồm: Trần Minh S; Trần Bích L1; Trần Quốc T và Trần Ngọc M2; hàng thừa kế của ông Trần Văn T1 và bà Lê Thị H2 là Trần Thị D1; hàng thừa kế của ông Trần Minh S là Trần Trà M, Trần Thúy M6 và Đoàn Thị L nên đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngoài ra bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm Trần Quốc T, Trần Bích L1, Trần Thị D1 còn khai: ông Trần Văn T1 và vợ trước là bà Lê Thị H2 có với nhau 05 người con chung là Trần Văn B (chết không vợ con); Trần Văn B Ba sống ở Đồng Nai; Trần Thị L3 sống ở Long An, Trần Văn L4 đang sống ở Bình Dương và Trần Thị D1 nhưng không cung cấp được họ tên, năm sinh, địa chỉ hiện tại và Giấy khai sinh, căn cước công dân/chứng minh nhân dân của ông Trần Văn Bé B1, bà Trần Thị L3, ông Trần Văn L4 theo

7

Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 90 ngày 22/8/2023 của Tòa án nên không thể tiến hành ghi nhận được ý kiến của những người được nêu ra như trên.

[3] Về thời hiệu thừa kế:

Theo Giấy chứng tử số 36/2013 ngày 27/6/2013 thể hiện ông Trần Văn T1 đã chết vào ngày 20/11/1980. Ngày 13/02/2023 bị đơn Trần Ngọc M2 và ngày 08/5/2023 ông Trần Thanh G là đại diện theo ủy quyền của bị đơn có văn bản yêu cầu áp dụng thời hiệu để giải quyết yêu cầu phân chia di sản của ông Trần Văn T1 theo quy định tại khoản 2 Điều 149 Bộ luật dân sự 2015. Điều 623 Bộ luật dân sự 2015 quy định thời hiệu để yêu cầu chia di sản đối với bất động sản là 30 năm nên đã hết thời hiệu để yêu cầu phân chia di sản thừa kế của ông Trần Văn T1. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về việc yêu cầu phân chia di sản thừa kế của ông Trần Văn T1.

Theo Trích lục khai tử số 262 ngày 05/5/2022 thể hiện bà Trần Thị H đã chết vào ngày 08/12/2014 nên còn thời hiệu khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế của bà Trần Thị H.

[4] Về di sản thừa kế:

Nguyên đơn cho rằng thửa đất số 302, tờ bản đồ số 19, diện tích 1730,1m² là tài sản chung của ông T1 và bà H, cả hai chết đều không để lại di chúc nên đây là di sản thừa kế chưa được phân chia. Nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật thành 4 kỷ phần. Nguyên đơn nhận 01 kỷ phần thừa kế mà cha ruột là ông S được nhận. Nguyên đơn không tranh chấp đối với tài sản trên đất là căn nhà và cây trồng, đồng ý giao phần đất nền mộ cho bị đơn quản lý.

Căn cứ hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 302 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Bến Tre cung cấp thể hiện: Ngày 06 tháng 5 năm 1993, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành quyết định số 249 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 1280 cá nhân, trong đó có bà Trần Thị H; Ngày 11/5/1993, bà Trần Thị H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Ngày 07/5/2012, bà H lập Hợp đồng tặng cho ông Trần Ngọc M2. Ông M2 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 722969 vào ngày 05/6/2012.

Xét thấy, bà Trần Thị H đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vào năm 1993 (thời điểm này ông Trần Văn T1 đã chết 13 năm) nên đây không phải là tài sản chung của vợ chồng ông T1 và bà Trần Thi H3 mà là tài sản của cá nhân bà Trần Thị H được nhà nước thừa nhận.

8

Vào năm 2012, bà H lập hợp đồng tặng cho ông Trần Ngọc M2 thửa đất số 642, 643 (thửa mới số 302). Về hình thức, hợp đồng được lập thành văn bản, có tiến hành chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 689 Bộ Luật dân sự năm 2005. Về nội dung, tại thời điểm tiến hành ký kết hợp đồng thì các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, các nội dung trong hợp đồng đảm bảo đầy đủ theo đúng quy định. Do đó, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ký giữa bà Trần Thị H và ông Trần Ngọc M2 có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 122 Bộ Luật dân sự năm 2005.

Từ những căn cứ trên xác định: thửa đất số 302, diện tích 1703.1m² tại xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre không phải là di sản thừa kế của bà Trần Thị H.

[5] Về giá trị tài sản tranh chấp:

Căn cứ họa đồ hiện trạng sử dụng đất; biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và biên bản định giá tài sản ngày ngày 19/8/2022 thì tổng giá trị tài sản tranh chấp là 955.050.000 đồng, bao gồm: 800.000đồng/m² đất thổ cư x 300m² = 240.000.000đồng + 500.000đồng/m² đất cây lâu năm x 1430.1m² = 715.050.000 đồng.

[6] Xét yêu cầu được nhận 01 kỷ phần có diện tích 432.5m² theo họa đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 20/9/2023:

Do đã hết thời hiệu để yêu cầu phân chia di sản thừa kế của ông Trần Văn T1 và thửa đất số 302, tờ bản đồ số 19, diện tích 1703.1m² tại xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre không phải là di sản thừa kế của bà Trần Thị H nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 25/5/2023, Tòa án nhận được “Đơn sửa đổi yêu cầu khởi kiện” đề ngày 15/5/2023 của các nguyên đơn với nội dung: trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế thì nguyên đơn yêu cầu được ở lại trên phần đất có chiều ngang 08m chiều dài hết đất (tính từ lộ bê tông trở vô), có tổng diện tích 322.5m² gồm các thửa tạm 302-5-3 diện tích 15.4m²; 302-2-3 diện tích 307.1m² theo họa đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 20/9/2023, nguyên đơn sẽ trả lại giá trị bằng tiền theo giá của Hội đồng định giá đã định. Đây là yêu cầu mới so với các yêu cầu khởi kiện mà Tòa án đã thụ lý, phát sinh sau khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Mặt khác, bị đơn không có yêu cầu phản tố về việc buộc bà L và các con phải di dời nơi ở ra khỏi đất mà sẽ tự giải quyết với nhau sau khi kết thúc vụ án tranh chấp thừa kế. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này, khi cần thiết đương sự được quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.

9

[7] Về công sức cũng như nơi ở hiện tại của gia đình nguyên đơn:

Tại phiên toà, phía nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thừa nhận hiện tại chị Trà M và chị Thúy M1 đã có chồng và hiện đang sinh sống bên nhà chồng, bà L thì về sinh sống tại M và lên xuống hương khói cho ông S. Do đó, không xét đến nơi ở ổn định cho phía nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà L.

Về công sức bà L thừa nhận sau khi ông S chết bà đã được gia đình bên chồng cho 140.000.000 (Một trăm bốn mươi triệu) đồng từ việc bán đất. Do đó, phía gia đình nguyên đơn cũng đã nhận được sự đền bù này là phù hợp với công sức trông thời gian ở trên đất.

Từ những phân tích trên, bà Trần Trà M, bà Trần Thùy M5 kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó, HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Trà M, bà Trần Thùy M5 là có căn cứ.

[8] Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tại phiên toà không phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[9] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[10] Do kháng cáo không chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Trà M, bà Trần Thùy M5.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 111/2023/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Căn cứ:

  • Điều 122 và Điều 689 Bộ Luật dân sự năm 2005.
  • Điều Điều 149 và Điều 623 Bộ Luật dân sự năm 2015.
  • Các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 217 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

10

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Trà M, bà Trần Thúy M1 về việc yêu cầu phân chia di sản thừa kế của ông Trần Văn T1 đối với phần đất có diện tích 1.730,1m² thuộc thửa 302, tờ bản đồ số 19 tại xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre hiện do ông Trần Ngọc M2 đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 722969 cấp ngày 05/6/2012 (có kèm theo Họa đồ hiện trạng sử dụng đất).
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Trà M, bà Trần Thúy M1 về việc yêu cầu phân chia di sản thừa kế của bà Trần Thị H đối với phần đất có diện tích 1.730,1m² thuộc thửa 302, tờ bản đồ số 19 tại xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre hiện do ông Trần Ngọc M2 đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 722969 cấp ngày 05/6/2012 (có kèm theo Họa đồ hiện trạng sử dụng đất).
  3. Chi phí tố tụng: bà Trần Trà M, bà Trần Thúy M1 phải chịu 7.196.000₫ (Bảy triệu một trăm chín mươi sáu ngàn đồng) và đã nộp đủ.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

    Bà Trần Trà M, bà Trần Thúy M1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.703.000₫ (Hai triệu bảy trăm lẻ ba ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0006609 ngày 05/7/2022. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre hoàn lại số tiền chênh lệch là 2.403.000₫ (Hai triệu bốn trăm lẻ ba ngàn đồng) cho bà Trần Trà M, bà Trần Thúy M1.

  5. Án phí dân sự phúc thẩm:

    Bà Trần Trà M, bà Trần Thùy M5 mỗi người phải chịu là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000901, 0000900 ngày 24/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

11

  • - TAND huyện Châu Thành;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Chí Đức

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 166/2024/DS-PT ngày 29/02/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 166/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/02/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger