TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 166/2024/DS-PT Ngày: 05-9-2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Hùng
Các Thẩm phán: Ông Phạm Tiến Hiệp
Ông Nguyễn Văn Nhân
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Dung – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 30/7/2024, ngày 28/8/2024 và ngày 05/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 09/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 01 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2023/QĐPT-DS ngày 15 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Ông Phí Đình H, sinh năm 1983; trú tại: khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (có mặt)
*Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1986; trú tại: khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (có mặt)
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hà Văn T, sinh năm 1983; trú tại: khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1985; trú tại: khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
- Ông Võ Đức M, sinh năm 1983; trú tại: thôn D, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
- Bà Trần Thị Hồng P, sinh năm 1982; trú tại: tổ D, khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Huy T1, sinh năm 1959; trú tại: khu phố T, phường T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
- Bà Lê Thị N, sinh năm 1984; trú tại: tổ E, khu phố C, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
- Bà Hoàng Thị N1, sinh năm 1986; trú tại: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1971; trú tại: tổ B, khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
- Bà Lê Thị H3, sinh năm 1973; trú tại: ấp F, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
- Ông Trần Đình B, sinh năm 1987; trú tại: khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Huy H4, sinh năm 1982; trú tại: tổ A, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
- Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước; địa chỉ: đường P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Người đại diện theo pháp luật bà Nguyễn Thanh P1
- Phòng C tỉnh Bình Phước; địa chỉ: đường N, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
- Bà Lưu Thị H5, sinh năm 1938; trú tại: tổ G, khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
- Bà Lê Thị P2, sinh năm 1985; trú tại khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
- Bà Hà Thị Mỹ T5, sinh năm 1984; tổ B, khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
- Ông Lê Xuân T6, sinh năm 1984; trú tại: khu phố T, phường T, thành phố Đ, Bình Phước. (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Thanh H7, sinh năm 1986; trú tại: thôn A, xã N, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Minh S, sinh năm 1989; trú tại: ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. (văng mặt)
- Bà Mai Thị P3, sinh năm 1981; trú tại ấp C, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
- Bà Trương Minh H8, sinh năm 1986; địa chỉ: khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Đăng T3 – Phó Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài (có mặt)
Bà H6, bà Lê Thị P2 ủy quyền cho bà Trần Phương T4 tham gia tố tụng
*Người kháng cáo: Bị đơn ông bà Nguyễn Thị H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn – Ông Phí Đình H trình bày:
Vào ngày 24/08/2020 tôi có nhận chuyển nhượng quyền của bà Nguyễn Thị H1 với thửa đất và toàn bộ tài sản trên đất căn cứ theo Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác liền với đất số BP 605464, số vào sổ cấp Giấy CN: CH10724/QSDĐ, do UBND Thị Xã Đ cấp ngày 05/6/2015 có diện tích 798,9m2, thuộc thửa đất số 525, tờ bản đồ số 19. Đất tọa lạc tại: Phường T, Thị Xã Đ (nay thành phố Đ), tỉnh Bình Phước mang tên ông Đoàn Văn T7 và vợ là bà Hoàng Thị T8.
Đến ngày 09/6/2018 điều chỉnh trang 3: Chuyển nhượng sang cho Nguyễn Thị H1, hồ sơ số 005809. Theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng số N° 5964/quyển số 01 TP/CC - SCC/HĐGD ngày 24/9/2020 tại Văn phòng C1 tỉnh Bình Phước.
Với giá 7.000.000.000đ (bảy tỷ đồng). Vì sổ đang nằm trong Ngân hàng B1 nên chúng tôi có làm hợp đồng chuyển nhượng tay (chưa công chứng) nên khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng tôi đưa trước cho bà H1 3.000.000.000đồng (ba tỷ đồng). Hẹn trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ký hợp đồng chuyển nhượng này, tôi sẽ giao đủ tiền và bà H1 có trách nhiệm ra Phòng công chứng sang tên cho tôi.
Vào ngày 24/9/2020, tôi có nộp vào Ngân hàng 4.000.000.000đ (bốn tỷ đồng) tiền gốc, 59.178.082 đ tiền lãi (từ ngày 01/09/2020-24/09/2020) và tiền phạt trả nợ trước hạn 30.000.000đ để lấy sổ ra. Số tiền này là số tiền tôi giao đủ số tiền còn lại theo thỏa thuận của hợp đồng chuyển nhượng ngày 24/08/2020. Chúng tôi đã ra Phòng C, tỉnh Bình Phước ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, số công chứng số Nº 5964/quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/09/2020 tại Phòng C tỉnh Bình Phước.
Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng ở Phòng C, tỉnh Bình Phước, bà H1 đã bàn giao tài sản cho tôi toàn quyền quản lý sử dụng cho đến nay.
Trong quá trình làm thủ tục sang tên cho tôi, thì tôi bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với thửa đất nói trên không được giao dịch theo Quyết định số 10/2020/QĐ - BPKCTT ngày 05/10/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài.
Tôi rất bức xúc trước sự việc nói trên, tôi đã giao đủ tiền và bên chuyển nhượng đã bàn giao đất cho tôi, tôi được toàn quyền sở hữu và sử dụng tài sản gắn liền trên đất.
Chính vì lẽ đó, nay tôi làm đơn này này kính gởi Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước xem xét gỡ bỏ các biện pháp ngăn chặn, giải quyết cho tôi:
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ công chứng số Nº 5964/quyển số 01 TP/CC - SCC/HĐGD ngày 24/9/2020 tại Văn phòng C1 tỉnh Bình Phước có hiệu lực pháp luật.
- Tuyên tôi được quyền quản lý sử dụng định đoạt thuộc thửa đất số 525, tờ bản đồ số 19, diện tích 798,9m2, căn cứ theo Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác liền với đất số BP 605464, số vào sổ cấp Giấy CN: CH10724/QSDĐ, do UBND Thị Xã Đ cấp ngày 05/6/2015, đất tọa lạc tại: T, Thị Xã Đ (nay thành phố Đ).
- Tôi được quyền tự liên hệ với cơ quan chức năng để sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
Tại biên bản lấy lời khai, bị đơn bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Giữa tôi ông Phí Đình H và bà Trương Minh H8 vợ ông H - là chỗ quen biết nhau, vì vậy, vào đầu năm 2020 nên tôi có vay của bà H8 số tiền là khoảng 7.000.000.000đồng (tôi không nhớ chính xác thời gian, số tiền cụ thể).
Do trước đó, tôi có vay Ngân hàng B1 – Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh B - số tiền gốc là hơn 3.500.000.000đồng cùng tiền lãi (tôi không nhớ chính xác số tiền cụ thể) và tôi có thế chấp cho Ngân hàng B1 thửa đất số 525, tờ bản đồ 19, diện tích 798,9m², tọa lạc tại phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đã được UBND tỉnh B cấp GCN QSD đất số CH 08165/QSDĐ ngày 02/10/2012 và cập nhật biến động trang 3 ngày 09/6/2018 sang tên cho tôi – Nguyễn Thị H1 -, lúc này vợ chồng ông H, bà H8 đã đồng ý thay tôi trả nợ cho Ngân hàng để lấy GCNQSD thửa đất trên ra.
Sau khi ông H, bà H8 trả nợ cho Ngân hàng và lấy được GCNQSD đất ra thì tôi và bà H8 đã thỏa thuận như sau:
Tôi đồng ý chuyển nhượng lại cho vợ chồng bà H8, ông H thửa đất số 525, tờ bản đồ 19, diện tích 798,9m², tọa lạc tại phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đã được UBND tỉnh B cấp GCN QSD đất số CH 08165/QSDĐ ngày 02/10/2012 và cập nhật biến động trang 3 ngày 09/6/2018 sang tên cho Nguyễn Thị H1 với giá 7.000.000.000đồng trong đó có 4.000.000.000đồng là tiền bà H8, ông H đã thay tôi trả nợ cho Ngân hàng B1 đề lấy GCNQSD đất ra và 3.000.000.000đồng là trừ vào khoản nợ mà tôi đã vay của bà H8 trước đó.
Sau khi thống nhất sự thỏa thuận như trên, chúng tôi đã đến Phòng C tỉnh Bình Phước để làm hợp đồng công chứng việc tôi chuyển nhượng thửa đất số 525, tờ bản đồ 19, diện tích 798,9m², tọa lạc tại phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước cho ông H vào ngày 24 tháng 9 năm 2020. Việc tôi và ông H lập hợp đồng chuyển nhượng QSD thửa đất trên là hoàn toàn tự nguyện, theo sự thỏa thuận của hai bên không ai ép buộc, lừa dối ai.
Sau khi làm hợp đồng và công chứng thì GCN QSD đất do vợ chồng ông H, bà H8 giữ, còn việc bà H8, ông H đã làm thủ tục sang tên hay chưa thì tôi không rõ.
Sau đó, do tôi còn nợ tiền những người khác nên họ khởi kiện ra Tòa và chuyển sang cơ quan thi hành án để giải quyết, khi này cơ quan Thi hành thông báo cho tôi biết về việc lấy tài sản là thửa đất trên để thi hành án cho những người mà tôi còn nợ tiền họ.
Nay tại Tòa, tôi trình bày ý kiến như sau việc chuyển nhượng QSD thửa đất số 525, tờ bản đồ 19 trên theo HĐCNQSD đất đã được Phòng C tỉnh Bình Phước công chứng số Nº 5964, ngày 24/9/2020 là do tôi, vợ chồng ông H thỏa thuận, song, nay để đảm bảo quyền lợi cho tôi, ông H và cả những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án trên tôi yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Ông Hà Văn T - sinh năm 1983. Trú tại khu phố Phú Thanh, phường Tân Phú, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước
- Bà Nguyễn Thị H2 trình bày như sau (BL 181, 182): Giữa tôi và bà H1, ông T là chỗ quen biết, nên tôi có cho bà H1 ông T vay số tiền 800.000.000 đồng. Do bà H1, ông T không trả tiền nên tôi khởi kiện ra Tòa án và được giải quyết bằng Quyết định CNSTTCĐS số 34/2021/QÐST-DS ngày 10/6/2021 của Tòa án nhân dân TP Đồng Xoài. Vụ việc của tôi được chuyển sang cơ quan THA DS Đồng Xoài, hiện bà H1 vẫn chưa trả tiền cho tôi. Để đảm bảo quyền lợi cho tôi thì tôi không đồng ý việc bà H1 chuyển nhượng QSDĐ cho ông H.
- Ông Võ Đức M ủy quyền cho bà Hoàng Thị N1 trình bày như sau (BL 141, 143, 144, 145): Giữa tôi và bà H1, ông T là chỗ quen biết nên tôi có cho bà H1 vay số tiền 8.300.000.000 đồng. Do bà H1 không trả tiền nên tôi khởi kiện ra Tòa án và được giải quyết bằng Quyết định CNSTTCĐS số 01/2021/QÐST-DS ngày 29/3/2021 của Tòa án nhân dân TP Đồng Xoài. Vụ việc của tôi được chuyển sang cơ quan THA DS Đồng Xoài, hiện bà H1 vẫn chưa trả tiền cho tôi. Để đảm bảo quyền lợi cho tôi thì tôi không đồng ý việc bà H1 chuyển nhượng QSDĐ cho ông H.
- Bà Trần Thị Hồng P trình bày như sau (BL 130, 131) Giữa tôi và bà H1, ông T là chỗ quen biết nên tôi có cho bà H1 vay số tiền 2.900.000.000 đồng. Do bà H1 không trả tiền nên tôi khởi kiện ra Tòa án và được giải quyết bằng Quyết định CNSTTCĐS số 04/2021/QÐST-DS ngày 31/5/2021 của Tòa án nhân dân TP Đồng Xoài. Vụ việc của tôi được chuyển sang cơ quan THA DS Đồng Xoài, hiện bà H1 vẫn chưa trả tiền cho tôi. Để đảm bảo quyền lợi cho tôi thì tôi không đồng ý việc bà H1 chuyển nhượng QSDĐ cho ông H.
- Ông Nguyễn Huy T1 trình bày như sau: (BL 126, 127) Giữa tôi và bà H1, ông T là chỗ quen biết nên tôi có cho bà H1 vay số tiền 6.600.000.000 đồng. Do bà H1 không trả tiền nên tôi khởi kiện ra Tòa án và được giải quyết bằng Quyết định CNSTTCĐS số 03/2021/QÐST-DS ngày 31/5/2021 của Tòa án nhân dân TP Đồng Xoài. Vụ việc của tôi được chuyển sang cơ quan THA DS Đồng Xoài, hiện bà H1 vẫn chưa trả tiền cho tôi. Để đảm bảo quyền lợi cho tôi thì tôi không đồng ý việc bà H1 chuyển nhượng QSDĐ cho ông H.
- Bà Lê Thị N trình bày như sau (BL 136, 137): Giữa tôi và bà H1, ông T là chỗ quen biết, vì vậy, tôi cho bà H1 vay số tiền 1.288.517.000đồng. Do bà H1 không trả tiền nên tôi khởi kiện ra Tòa án và được giải quyết bằng bản án số 44/2021/DSPT ngày 06/4/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước. Vụ việc của tôi được chuyển sang cơ quan THA DS Đồng Xoài, hiện bà H1 vẫn chưa trả tiền cho tôi. Để đảm bảo quyền lợi cho tôi thì tôi không đồng ý việc bà H1 chuyển nhượng QSDĐ cho ông H và xin vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Nguyễn Ngọc T2 trình bày như sau: (BL 128, 129) Giữa tôi và bà H1, ông T là chỗ quen biết, nên tôi có cho bà H1 vay số tiền 1.400.000.000 đồng. Do bà H1 không trả tiền nên tôi khởi kiện ra Tòa án và được giải quyết bằng Quyết định CNSTTCĐS số 93/2020/QÐST-DS ngày 03/12/2020 của Tòa án nhân dân TP Đồng Xoài. Vụ việc của tôi được chuyển sang cơ quan THA DS Đồng Xoài, hiện bà H1 vẫn chưa trả tiền cho tôi. Để đảm bảo quyền lợi cho tôi thì tôi không đồng ý việc bà H1 chuyển nhượng QSDĐ cho ông H. (Xin vắng)
- Bà Lê Thị H3 trình bày như sau (BL 179, 180): Giữa tôi và bà H1, ông T là chỗ quen biết, nên tôi có cho bà H1 vay số tiền 3.670.000.000 đồng. Do bà H1 không trả tiền nên tôi khởi kiện ra Tòa án và được giải quyết bằng Quyết định CNSTTCĐS số 96/2020/QÐST-DS ngày 17/12/2020 của Tòa án nhân dân TP Đồng Xoài. Vụ việc của tôi được chuyển sang cơ quan THA DS Đồng Xoài, hiện bà H1 vẫn chưa trả tiền cho tôi. Qua hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa bà H1 và ông H3 được chuyển nhượng trước khi tôi khởi kiện tại tòa án nên tôi không có ý kiến gì về việc chuyển nhượng QSDĐ này.
- Ông Trần Đình B trình bày như sau (BL 132, 133) Giữa tôi và bà H1, ông T là chỗ quen biết nên tôi có cho bà H1 vay số tiền 3.700.000.000 đồng. Do bà H1 không trả tiền nên tôi khởi kiện ra Tòa án và được giải quyết bằng Quyết định CNSTTCĐS số 94/2021/QÐST-DS ngày 07/12/2021 của Tòa án nhân dân TP Đồng Xoài. Vụ việc của tôi được chuyển sang cơ quan THA DS Đồng Xoài, hiện bà H1 vẫn chưa trả tiền cho tôi. Việc bà H1 chuyển nhượng QSDĐ cho ông H3 theo hợp đồng công chứng số Nº 5964 quyển số 01/TP/CC – SCC/HĐGD ngày 24/9/2020 thì tôi yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định.
- Ông Nguyễn Huy H4 trình bày như sau (BL 206, 207): Giữa tôi và bà H1 là chỗ quen biết, vì vậy tôi có cho bà H1 vay số tiền 8.400.000.000 đồng đã được bà H1, ông T xác nhận tại THA DS thành phố Đồng Xoài ngày 16/12/2020. Việc bà H1 chuyển nhượng đất cho ông H3 như thế nào thì tôi không rõ. Để đảm bảo quyền lợi cho tôi, tôi yêu cầu ông Phí Đình H thanh toán cho tôi số tiền 400.000.000 đồng thì tôi sẽ không có ý kiến gì việc ông H đứng tên trong GCNQSDĐ số BP 605464.
- Phòng C tỉnh Bình Phước trình bày: Việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ số Nº 5964, quyển số 01TP/CC-SCC-HĐGD được chứng nhận ngày 24/9/2020 đã tuân thủ đúng trình tự, quy định của pháp luật: Việc công chứng HđCNQSDĐ thực hiện đúng thẩm quyền công chứng theo quy định tại Điều 42 Luật công chứng, QSDĐ tại thời điểm công chứng đủ điều kiện chuyển nhượng không vi phạm luật đất đai, việc công chứng đúng trình tự; thủ tuc5tai5 Điều 41 Luật công chứng, các bên tham gia giao kết giao dịch theo đúng quy định của pháp luật và có năng lực hành vi dân sự, các bên ký kết hợp đồng cam đoan những thông tin về nhân thân, thửa đất đã ghi trong hợp đồng là đúng sự thật.
- Bà Lưu Thị H9 ủy quyền cho bà Trần Phương T4 tham gia tố tụng trình bày như sau: nguyên bà H1 có vay của bà H9 số tiền 700.000.000đồng nhưng không trả nên bà H9 đã khởi kiện ra Tòa – và cũng ủy quyền cho tôi tham gia tố tụng -. Vụ việc đã được Tòa án thụ lý, giải quyết bằng quyết định số 23/2021/QĐST – DS ngày 07 tháng 4 năm 2021 và chuyển sang cơ quan thi hành án dân sự thành phố Đ nhưng cho đến nay bà h vẫn chưa trả tiền cho bà H9, do vậy, để đảm bảo quyền lợi cho bà H9 thì tôi không đồng ý việc bà H1 chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất hiện đang tranh chấp cho ông H.
- Bà Lê Thị P2 ủy quyền cho bà Trần Phương T4 tham gia tố tụng trình bày như sau (BL 195): Giữa tôi và bà H1, ông T là chỗ quen biết, nên tôi có cho bà H1 vay số tiền 5.000.000.000 đồng. Do bà H1 không trả tiền nên tôi khởi kiện ra Tòa án Tp Đ. Trong quá trình thụ lý thì tôi có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với QSDĐ thuộc thửa đất số 525, tờ bản đồ 19, diện tích 798,9m², tọa lạc tại phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước được UBND tỉnh B cấp GCNQSDĐ số CH 08165/QSDĐ ngày 01/10/2012 và cập nhật biến động trang 3 ngày 09/6/2018 sang tên cho tôi Nguyễn Thị H1. Nat tôi yêu cầu Tòa án bác yêu cầu công nhận đối với hợp đồng chuyển nhượng ngày 24/9/2020 giữa bà H1 và ông H.
- Bà Hà Thị Mỹ T5 trình bày như sau (BL 188, 189): Giữa tôi và bà H1, ông T là chỗ quen biết, nên tôi có cho bà H1 vay số tiền 4.630.000.000 đồng. Do bà H1 không trả tiền nên tôi khởi kiện ra Tòa án và được giải quyết bằng Quyết định CNSTTCĐS số 06/2021/QÐST-DS ngày 15/7/2021 của Tòa án nhân dân TP Đồng Xoài. Vụ việc của tôi được chuyển sang cơ quan THA DS Đồng Xoài, hiện bà H1 vẫn chưa trả tiền cho tôi. Để đảm bảo quyền lợi cho tôi thì tôi không đồng ý việc bà H1 chuyển nhượng QSDĐ cho ông H.
- Ông Lê Xuân T6 trình bày như sau (BL 186, 187): Giữa tôi và bà H1, ông T là chỗ quen biết, nên tôi có cho bà H1 vay số tiền 5.780.000.000 đồng. Do bà H1 không trả tiền nên tôi khởi kiện ra Tòa án và được giải quyết bằng Quyết định công nhận hòa giải thành số 07/2021/QĐ-DS ngày 18/10/2021 của Tòa án nhân dân TP Đồng Xoài. Vụ việc của tôi được chuyển sang cơ quan THA DS Đồng Xoài, hiện bà H1 vẫn chưa trả tiền cho tôi. Để đảm bảo quyền lợi cho tôi thì tôi không đồng ý việc bà H1 chuyển nhượng QSDĐ cho ông H.
- Bà Nguyễn Thị Thanh H7 trình bày như sau (BL 204): Giữa tôi và bà H1 là chỗ quen biết. Vì vậy tôi có cho bà H1 vay số tiền 7.400.000.000 đồng. Do bà H1 không trả tiền nên tôi khởi kiện ra Tòa án và được giải quyết bằng Quyết định CNSTTCCĐS số 205/QĐ-CCTHADS ngày 24/11/2021 của Chi cục T. Vụ việc của tôi được chuyển sang cơ quan THA DS Đồng Xoài, hiện bà H1 vẫn chưa trả tiền cho tôi. Nên tôi không đồng ý việc bà H1 chuyển nhượng QSDĐ trên cho ông H và xin vắng mặt tại phiên tòa.
- Bà Nguyễn Thị Minh S trình bày: (BL 200, 201, 202) Giữa tôi và bà Nguyễn Thị H1 là chỗ quen biết. Vì vậy tôi có cho bà H1 vay số tiền 12.000.000.000 đồng. Do bà H1 không trả tiền nên tôi khởi kiện ra Tòa án và được giải quyết bằng QĐ số 08/2021/QÐST-DS ngày 26/10/2021 của Tòa án nhân dân TP Đồng Xoài. Vụ việc của tôi được chuyển sang cơ quan THA DS Đồng Xoài, hiện bà H1 vẫn chưa trả tiền cho tôi. Nên tôi không đồng ý việc bà H1 chuyển nhượng QSDĐ trên cho ông H, để đảm bảo quyền lợi cho tôi, tôi yêu cầu lấy thửa đất trên để thi hành án cho tôi.
- Bà Mai Thị P3 trình bày như sau (BL 196, 197): Giữa tôi và bà H1 là chỗ quen biết. Vì vậy tôi có cho bà H1 vay số tiền 890.000.000 đồng. Do bà H1 không trả tiền nên tôi khởi kiện ra Tòa án và được giải quyết bằng Quyết định CNSTTCCĐS số 44/2021/ QÐST- DS ngày 11/11/2021 của Tòa án nhân dân TP Đồng Xoài. Vụ việc của tôi được chuyển sang cơ quan THA DS Đồng Xoài, hiện bà H1 vẫn chưa trả tiền cho tôi. Việc bà H1 chuyển nhượng QSDĐ cho ông H như thế nào thì tôi không rõ. Tôi yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định.
- Chi cục Thi hành án dân sự trình bày: Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài nhận được Thông báo số 186/TB-TLVA ngày 20/12/2021 và Công văn số 16/CV-TA ngày 06/01/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài thông báo về việc thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện của ông Phí Đình H, nội dung yêu cầu Tòa án giải quyết: yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Phòng C tỉnh Bình Phước công chứng số Nº 5964, quyển số 01 TP/CC –SCC/HĐGD ngày 24/9/2020.
Ngày 03/3/2022, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài đã có Công văn số 105/CCTHADS trình bày ý kiến về việc thụ lý, giải quyết vụ án.
Nay, Chi cục Thi hành án dân sự có ý kiến đối với nội dung khởi kiện của ông Phí Đình H, như sau:
Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Đ đang thi hành các Quyết định số 90/2020/QÐST-DS ngày 27/11/2020; Quyết định số 93/2020/QÐST-DS ngày 03/12/2020; Quyết định số 94/2020/QÐST-DS ngày 07/12/2020; Quyết định số 96/2020/QÐST-DS ngày 17/12/2020; Quyết định số 01/2021/QÐST-DS ngày 29/3/2021; Quyết định số 02/2021/QÐST-DS ngày 26/5/2021; Quyết định số 03/2021/QÐST-DS ngày 31/5/2021; Quyết định số 04/2021/QÐST-DS ngày 31/5/2021; Quyết định số 34/2021/QĐST-DS ngày 10/6/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài; Bản án số 44/2021/DSPT ngày 06/4/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước; Quyết định số 23/2021/QÐST-DS ngày 07/4/2021; Quyết định số 06/2021/QÐST-DS ngày 15/7/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài và Bản án số 92/2021/DSPT ngày 23/8/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước và ra các quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu đối với bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1986 và ông Hà Văn T, sinh năm: 1983, cùng thường trú tại địa chỉ: khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Cụ thể:
- Quyết định thi hành án số 313/QĐ-CCTHADS ngày 03/12/2020 buộc bà Nguyễn Thị H1, ông Hà văn T9 phải trả 8.400.000.000₫ (Tám tỷ bốn trăm triệu đồng) và tiền lãi chậm trả cho Nguyễn Huy H4, địa chỉ: khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Quyết định thi hành án số 398/QĐ-CCTHADS ngày 28/12/2020 buộc bà Nguyễn Thị H1 và ông Hà Văn T phải trả 3.670.000.000₫ (Ba tỷ sáu trăm bảy mươi triệu đồng) và tiền lãi chậm trả cho bà Lê Thị H3, địa chỉ: ấp F, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
- Quyết định thi hành án số 322/QĐ-CCTHADS ngày 09/12/2020 buộc bà Nguyễn Thị H1 và ông Hà Văn T phải trả 3.700.000.000đ (Ba tỷ bảy trăm triệu đồng) và tiền lãi chậm trả cho ông Trần Đình B, địa chỉ: khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
- Quyết định thi hành án số 470/QĐ-CCTHADS ngày 18/01/2020 buộc bà Nguyễn Thị H1 và ông Hà Văn T phải trả 1.400.000.000đ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng) và tiền lãi chậm trả cho ông Nguyễn Ngọc T2, địa chỉ: khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
- Quyết định thi hành án số 767/QĐ-CCTHADS ngày 07/4/2021 buộc bà Nguyễn Thị H1 phải trả 8.300.000.000đ (Tám tỷ ba trăm triệu đồng) và tiền lãi chậm trả cho bà Hoàng Thị N1, địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước.
- Quyết định thi hành án số 993/QĐ-CCTHADS ngày 04/6/2021 buộc bà Nguyễn Thị H1 phải trả 2.900.000.000đ (Hai tỷ chín trăm triệu đồng) và tiền lãi chậm trả cho cho bà Trần Thị Hồng P, địa chỉ: khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
- Quyết định thi hành án số 821/QĐ-CCTHADS ngày 22/4/2021 buộc bà Nguyễn Thị H1 và ông Hà Văn T phải trả 1.288.517.000đ (Một tỷ hai trăm tám mươi tám triệu năm trăm mười bảy đồng) và tiền lãi chậm trả cho bà Lê Thị N, địa chỉ: khu phố C, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
- Quyết định thi hành án số 992/QĐ-CCTHADS ngày 04/6/2021 buộc bà Nguyễn Thị H1 phải trả 6.600.000.000đ (Sáu tỷ sáu trăm triệu đồng) và tiền lãi chậm trả cho ông Nguyễn Huy T1, địa chỉ: khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
- Quyết định thi hành án số 991/QĐ-CCTHADS ngày 04/6/2021 buộc bà Nguyễn Thị H1 phải trả 10.160.000.000đ (Mười tỷ một trăm sáu mươi triệu đồng) và tiền lãi chậm trả cho cho ông Võ Đức M, địa chỉ: thôn D, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước.
- Quyết định thi hành án số 1075/QĐ-CCTHADS ngày 25/6/2021 buộc bà Nguyễn Thị H1 phải trả 800.000.000đ (Tám trăm triệu đồng) và tiền lãi chậm trả cho cho bà Nguyễn Thị H2, địa chỉ: khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
- Quyết định thi hành án số 1208/QĐ-CCTHADS ngày 24/8/2021 buộc bà Nguyễn Thị H1 phải trả 700.000.000₫ (Bảy trăm triệu đồng) và tiền lãi chậm trả cho cho bà Lưu Thị H9.
- Quyết định thi hành án số 1209/QĐ-CCTHADS ngày 24/8/2021 buộc bà Nguyễn Thị H1 phải trả 4.630.000.000₫ (Bốn tỷ sáu trăm ba mươi triệu đồng) và tiền lãi chậm trả cho cho bà Hà Thị Mỹ T5.
- Quyết định thi hành án số 1241/QĐ-CCTHADS ngày 06/9/2021 buộc bà Nguyễn Thị H1 phải trả 5.821.207.000đ (Năm tỷ tám trăm hai mươi mốt triệu hai trăm linh bảy nghìn đồng) và tiền lãi chậm trả cho cho bà Lê Thị P2.
- Quyết định thi hành án số 94/QĐ-CCTHADS ngày 01/11/2021 buộc bà Nguyễn Thị H1 phải trả 5.780.000.000đ (Năm tỷ bảy trăm tám mươi triệu đồng) và tiền lãi chậm trả cho cho ông Lê Xuân T6.
- Quyết định thi hành án số 96/QĐ-CCTHADS ngày 01/11/2021 buộc bà Nguyễn Thị H1 phải trả 12.800.000.000₫ (Mười hai tỷ tám trăm triệu đồng) và tiền lãi chậm trả cho cho bà Nguyễn Thị Minh S.
- Quyết định thi hành án số 204/QĐ-CCTHADS ngày 24/11/2021 buộc bà Nguyễn Thị H1 phải trả 890.000.000₫ (T10 trăm chín mươi triệu đồng) và tiền lãi chậm trả cho cho bà Mai Thị P3.
- Quyết định thi hành án số 205/QĐ-CCTHADS ngày 24/11/2021 buộc bà Nguyễn Thị H1 phải trả 7.400.000₫ (Bảy tỷ bốn trăm triệu đồng) và tiền lãi chậm trả cho cho bà Nguyễn Thị Thanh H7.
Ngày 05/8/2021, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài đã Quyết định về việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản số 24/QĐ-CCTHADS đối với bà Nguyễn Thị H1, tài sản là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 525, tờ bản đồ số 19, diện tích 798,9m², tọa lạc tại phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, đất có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số sổ BP 605464, số vào sổ cấp GCN: CH10724/QSDĐ do UBND thị xã Đ (nay là thành phố Đ) cấp cho vợ chồng ông Đoàn Văn T7, bà Hoàng Thị T8 ngày 05 tháng 6 năm 2015, được chỉnh lý trang 3 sang tên bà Nguyễn Thị H1 ngày 05 tháng 6 năm 2018. Ngày 24/9/2020, bà H1 đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Phí Đình H đã được Công chứng viên Phan Trà N2, Phòng C tỉnh Bình Phước công chứng, số công chứng Nº 5964, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD nhưng chưa thực hiện xong việc sang tên chủ sở hữu.
Ngày 19/8/2021, Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài đã ra Thông báo số 617/TB-THADS về việc xử lý tranh chấp quyền sở hữu đối với tài sản thi hành án và đã tống đạt cho các đương sự theo quy định.
Tổng số tiền án phí DSST ông T, bà H1 phải thi hành là 324.499.000đồng; trả nợ cho 17 người là 85.239.724.000₫ (T10 mươi lăm tỷ hai trăm ba mươi chín triệu bảy trăm hai mươi bốn nghìn đồng) và tiền lãi chậm trả trong quá trình thi hành án.
Chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài đã ra Quyết định số 31/QĐ-CCTHADS ngày 07/8/2023 và Quyết định số 32/QĐ-CCTHADS ngày 18/8/2023 kê biên tài sản là nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất của bà H1 để đảm bảo thi hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 75 Luật thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014; khoản 11, Điều 1 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính Phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.
20. Bà Trương Minh H8 trình bày: Tôi là vợ chính thức của ông Phí Đình H
Về việc vợ chồng tôi nhận chuyển nhượng QSD thửa đất của bà H1 cụ thể như sau:
Ngày 24/08/2020 vợ chồng tôi đồng ý nhận chuyển nhượng quyền của bà Nguyễn Thị H1 với thửa đất và toàn bộ tài sản trên đất căn cứ theo Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác liền với đất số BP 605464, số vào sổ cấp giấy CN: CH10724/QSDĐ, do UBND Thị Xã Đ cấp ngày 05/6/2015 có diện tích 798,9m², thuộc thửa đất số 525, tờ bản đồ số 19. Đất tọa lạc tại: Phường T, Thị Xã Đ (nay thành phố Đ), tỉnh Bình Phước mang tên ông Đoàn Văn T7 và vợ là bà Hoàng Thị T8.
Đến ngày 09/6/2018 điều chỉnh trang 3: Chuyển nhượng sang cho Nguyễn Thị H1, hồ sơ số 005809. Theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng số Nº 5964/quyển số 01 TP/CC - SCC/HĐGD ngày 24/9/2020 tại Văn phòng C1 tỉnh Bình Phước với giá 7.000.000.000đ (bảy tỷ đồng).
Tuy nhiên, tại thời điểm thỏa thuận thì GCNQSD đất đang nằm trong ngân hàng B1 nên vợ chồng chúng tôi đưa trước cho bà H1 3.000.000.000đồng (ba tỷ đồng) và được coi như là tiền đặt cọc, hai bên có làm hợp đồng mua bán đất bằng giấy tay, không công chứng và thỏa thuận tiếp trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ký hợp đồng chuyển nhượng ngày chúng tôi giao cho bà H1 số tiền 3.000.000.000đồng-, chúng tôi sẽ giao đủ tiền và bà H1, bà H1 có trách nhiệm ra Phòng công chứng làm hợp đồng chuyển nhượng sang tên thửa đất cho tôi.
Vào ngày 24/9/2020, tôi cùng bà H1 đến Ngân hàng B1 để nộp tiền vào Ngân hàng B1 là 4.000.000.000đ (bốn tỷ đồng) tiền gốc, 59.178.082đ tiền lãi (từ ngày 01/09/2020-24/09/2020) và tiền phạt trả nợ trước hạn 30.000.000đ, tổng công là 4.089.178.000đ để lấy GCNQSD đất ra. Số tiền này coi như chúng tôi đã giao đủ số tiền 4.000.000.000đồng còn lại theo thỏa thuận của hợp đồng chuyển nhượng ngày 24/08/2020 (riêng tiền lãi Ngân hàng và tiền phạt chúng tôi phải chấp nhận chịu thay bà H1). Sau khi trả tiền cho Ngân hàng xong và lấy được CNQSD đất ra, vợ chồng tôi cùng bà H1 đã đến Phòng C, tỉnh Bình Phước để ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất như đã thỏa thuận, hợp đồng được công chứng số số Nº 5964/quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/09/2020 tại Phòng C tỉnh Bình Phước.
Tuy nhiên, vì lý do cá nhân và công việc nên tôi – H8 – đã đồng ý để cho ông H – chồng tôi – đứng tên một mình trong HĐCNQSD đất trên.
Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng ở Phòng C, tỉnh Bình Phước, bà H1 đã giao GCNQSD đất – bản gốc – và bàn giao tài sản là nhà, đất cho vợ chồng tôi toàn quyền quản lý sử dụng cho đến nay.
Trong quá trình vợ chồng tôi làm thủ tục sang tên GCNQSD đất cho tôi, thì bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với thửa đất nói trên không được giao dịch theo Quyết định số 10/2020/QĐ - BPKCTT ngày 05/10/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài. Tôi rất bức xúc trước sự việc nói trên, tôi đã giao đủ tiền và bên chuyển nhượng đã bàn giao đất cho tôi, việc chuyển nhượng giữa tôi và bà H1 là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc ai, do vậy tôi được toàn quyền sở hữu và sử dụng tài sản gắn liền trên đất nên chúng tôi có khiếu nại và đã Tòa án đã ra quyết định hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời trên.
Tuy nhiên, sau khi Tòa án hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì lại đến cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Đ ra quyết định ngăn chặn nên cho đến nay chúng tôi vẫn chưa làm được thủ tục sang tên trên GCNQSD đất, song, hiện chúng tôi đã sữa chữa lại nhà và chuyển đến sống từ năm 2020 cho đến nay.
Nay, do chưa làm được thủ tục sang tên trên GCNQSD đất nên ông H – chồng tôi – đã làm đơn khởi kiện kính gửi Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước giải quyết: Công nhận hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ công chứng số Nº 5964/quyển số 01 TP/CC - SCC/HĐGD ngày 24/9/2020 tại Văn Phòng C1 tỉnh Bình Phước có hiệu lực pháp luật.
21/ Bà Hoàng Thị N1 trình bày:
Giữa tôi và bà H1 là chỗ quen biết, vì vậy tôi có cho bà H1 vay số tiền 8.300.000.000 đồng, việc vay tiền đã được Tòa án giải quyết bằng Quyết định số 01/2021/QĐST – DS ngày 29 tháng 3 năm 2021 và sau đó đã được chuyển sang THA DS để đảm bảo quyền lợi cho tôi, tôi không đồng ý việc bà H1 chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất hiện đang tranh chấp cho ông H và xin vắng mặt tại phiên tòa.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phí Đình H.
Công nhận “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” giữa bên chuyển nhượng bà Nguyễn Thị H1 và bên nhận chuyển nhượng ông Phí Đình H được Văn phòng C1 tỉnh Bình Phước công chứng số Nº 5964, ngày 24 tháng 9 năm 2020. Ông Phí Đình H có trách nhiệm liên hệ với các cơ có thẩm quyền để thực hiện trình tự, thủ tục sang tên theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 09/10/2023 bị đơn bà Nguyễn Thị H1 có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2023/DS-ST ngày 28/9/2023; hủy hợp đồng chuyển nhượng số Nº5964/quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/9/2020 và yêu cầu vợ chồng ông Phí Đình H, bà Trương Minh H8 trả lại cho bà số tiền 800.000.000 đồng.
*Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bên đương sự không tự thỏa thuận với nhau về các nội dung khác trong vụ án.
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;
- Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
*Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước:
Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị H1, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2023/DS-ST ngày28/9/2023 của TAND thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị H1 làm trong thời hạn luật định, hình thức và nội dung phù hợp các tại các Điều 271, 272 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự và làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét nội dung đơn kháng cáo:
[2.1] Về yêu cầu hủy bản án sơ thẩm với lý do Tòa cấp sơ thẩm không tống đạt cho bà H1 theo quy định tố tụng dân sự ảnh hưởng đến việc tham gia tố tụng của bà, Hội đồng xét xử thấy rằng: tại phiên tòa bà H1 là người kháng cáo thừa nhận hiện nay bà có ba địa chỉ cư trú:
- Khu phố Tân Trà 1, phường Tân Bình, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
- Ấp Phước Tân, xã Tân Phước, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
- Khu phố Phú Thịnh, phường Tân Phú, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
Tuy nhiên, trong suốt quá trình giải quyết vụ án bà H1 không cung cấp cho Tòa án cấp sơ thẩm các địa chỉ nêu trên để thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định Bộ luật Tố tụng Dân sự. Do vậy, kháng cáo của bà H1 về phần này không có căn cứ chấp nhận.
[2.2] Xét yêu cầu hủy HĐCNQSDĐ ngày số công chứng số N0 5964/quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/09/2020 được ký kết giữa ông H và bà H1 tại phòng C tỉnh Bình Phước vô hiệu do giả tạo vì cho rằng giao dịch chuyển nhượng thực tế là 7.000.000.000 (bảy tỷ ) đồng nhưng hợp đồng chuyển nhượng chỉ ghi 100.000.000(một trăm triệu)đồng và bị ép buộc thấy rằng:
- Tại cấp phúc thẩm Chi cục thi hành án thành phố Đồng Xoài đã có Văn bản số 1101 ngày 28/8/2024 trả lời với nội dung: Tính đến thời điểm này Chi cục thi hành án đang thụ lý giải quyết đối với các yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án là bà Nguyễn Thị H1 thì các quyết định và bản án đều sau thời điểm bà H1 và ông H ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, số công chứng số N0 5964/quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/09/2020 tại Phòng C tỉnh Bình Phước nên việc giao dịch giữa bà H1 với ông H không ảnh hưởng đến việc thi hành án giữa bà H1 với những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
- Trên cơ sở tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa bà H1 thừa nhận có việc vay Ngân hàng B1, thừa nhận ông H có nộp vào Ngân hàng 4.000.000.000 (bốn tỷ) đồng tiền gốc, 59.178.082 đồng tiền lãi (từ ngày 01/09/2020-24/09/2020) và tiền phạt trả nợ trước hạn 30.000.000 đồng để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà H1 đã thế chấp cho Ngân hàng là thể hiện sự đồng ý của Ngân hàng B1 và bà H1 cho ông H thực hiện việc trả nợ thay cho bà H1 và tiếp theo là cộng khoản tiền 2.700.000.000 (Hai tỷ bảy trăm triệu) đồng bà H1 nợ bà H8 (vợ ông H) theo bản án thi hành trước đó nên tổng số tiền các bên thực hiện giao dịch là 6.789.178.082 (sáu tỉ bảy trăm tám mươi chín triệu một trăm bảy mươi tám nghìn không trăm tám mươi hai) đồng. Ngoài ra, các bên còn thống nhất đồng ý khi giao đủ số tiền theo thỏa thuận thì lập hợp đồng chuyển nhượng và sau khi nhận đủ tiền thì các bên giao nhận tài sản, điều này tại phiên tòa phúc thẩm các bên đương sự cũng thừa nhận khi bên mua là ông H đã giao đủ tiền thì bên bán bà H1 đã ký văn bản bàn giao nhà, đất cho ông H quản lý sử dụng cho đến nay. Hơn nữa, từ ngày kí hợp đồng chuyển nhượng đất và nhà cho ông H đến nay bà H1 không có ý kiến phản đối, không có văn bản yêu cầu hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trước đó. Như vậy, việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đất giữa các bên đương là tự nguyện.
Tại phiên tòa phúc thẩm bà H1 cung cấp tin nhắn giữa bà H1 và bà H8 (vợ ông H) theo Vi bằng số 351/2024/VB -TPLMN ngày 27/8/2024 của văn phòng T11. Xét thấy, các hình ảnh trong Vi Bằng của cơ quan Thừa Phán Lại mà bà H1 cung cấp thì bà H1 thừa nhận là những người đến đòi nợ bà còn tin nhắn đe dọa thì phía bà H8 (vợ ông H) xác định giữa bà H8 với bà H1 trước đây là bạn học và có mối quan làm ăn với nhau nên có những tin nhắn thiếu chuẩn mực chứ không phải đe dọa. Lời trình bày này qua xem xét thực tiễn việc thực hiện giao dịch chuyển nhượng giữa các bên cũng như phần nhận định đã nêu trên thì lời trình bày của bà H8 là phù hợp. Hơn nữa, tại phiên tòa bà H1 đưa ra yêu cầu vợ chồng ông H, bà H8 phải trả thêm cho bà H1 số tiền 800.000.000 (tám trăm triệu) đồng thì sẽ rút kháng cáo, đồng ý tiếp tục chuyển nhượng quyền sử sụng đất cho ông H vì Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông H ghi giá 7.000.000.000 (bảy tỷ) đồng là chưa đúng với giá lúc bà H1 nhận chuyển nhượng từ ông T7 7.500.000.000 (bảy tỷ năm trăm triệu) đồng nhưng yêu cầu này không được phía vợ chồng ông H, bà H8 đồng ý. Như vậy, lời trình bày này cho thấy mục đích cuối cùng của bà H1 kháng cáo là tăng thêm số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất chứ không phải yêu cầu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do bị đe dọa hay bị ép buộc ký kết chuyển nhượng. Nếu bà H1 cho rằng mình bị ép buộc ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông H thì phải khởi kiện trước chứ không phải đợi ông H khởi kiện rồi mới có ý kiến cho rằng bị gây sức ép nên mới ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là không phù hợp với thực tế giao dịch dân sự. Do vậy, có căn cứ xác định việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H và bà H1 được lập thành văn bản, đã được Văn phòng C1 tỉnh Bình Phước công chứng số N0 5964, ngày 24/9/2020 là đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về hình thức, nội dung không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, vì vậy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24 tháng 9 năm 2020 giữa ông H và bà H1 có hiệu lực pháp luật không bị vô hiệu nên yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị H1 là không có căn cứ để chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phí Đình H về việc công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bên chuyển nhượng bà Nguyễn Thị H1 và bên nhận chuyển nhượng ông Phí Đình H được Văn phòng C1 tỉnh Bình Phước công chứng số Nº 5964, ngày 24 tháng 9 năm 2020 là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp quy định của pháp luật.[3] Từ những phân tích nêu trên, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị H1. Cần giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.[4] Quan điểm đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định Hội đồng xét xử, được chấp nhận.[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu theo quy định. Về chi phí tố tụng tại cấp sơ thẩm: Chi phí thẩm định, xem xét tại chỗ và định giá tài sản là 8.000.000đồng, nguyên đơn ông Phí Đình H tự nguyện chịu và đã đã nộp đủ nên các đương sự không phải chịu thêm lệ phí.[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị H1.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
Căn cứ các Điều 116, 117, 118, 119 và Điều 223 cùng các Điều 385, 398; Điều 405; Điều 500, 501 và Điều 502 của Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 166, khoản 1 Điều 167, 168, 169 và Điều 188 của Luật Đất đai;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phí Đình H.
Công nhận “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” giữa bên chuyển nhượng bà Nguyễn Thị H1 và bên nhận chuyển nhượng ông Phí Đình H được Văn phòng C1 tỉnh Bình Phước công chứng số Nº 5964, ngày 24 tháng 9 năm 2020.
Ông Phí Đình H có trách nhiệm liên hệ với các cơ có thẩm quyền để thực hiện trình tự, thủ tục sang tên theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà nguyễn Thị H10 phải chịu án phí là 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng).
Hoàn trả cho ông Phí Đình H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.500.000đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004115, ngày 02 tháng 12 năm 2021 của Chi cục thi hành án thành phố Đ.
Về chi phí tố tụng tại cấp sơ thẩm: Chi phí thẩm định, xem xét tại chỗ và định giá tài sản là 8.000.000đồng, nguyên đơn ông Phí Đình H tự nguyện chịu và đã đã nộp đủ nên các đương sự không phải chịu thêm lệ phí.
3. Án phí phúc thẩm:
Bị đơn bà Nguyễn Thị H1 phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005347 ngày 28/11/2023 tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Hùng |
Bản án số 166/2024/DS-PT ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 166/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
