|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 166/2023/HSST Ngày 02 tháng 11 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Hoan
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hưng
Bà Nguyễn Thị Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Huy Khang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 11 năm 2023 tại phòng xử án, trụ sở Tòa án nhân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 170/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh P; Giới tính: Nam; Sinh ngày 16 tháng 5 năm 1971 tại S; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: phật; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 818/11/4 L, phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: Không nơi ở nhất định; Trình độ học vấn: 03/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Nguyễn Văn H (chết) và bà Nguyễn Thị C; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Ngày 09/7/1986, Công an quận P, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi Trộm cắp quần áo, bị phạt cảnh cáo.
- - Ngày 09/10/1989, Công an quận P, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi Trộm cắp tài sản của công dân, bị đưa đi cưỡng bức lao động 12 tháng, được 04 tháng bỏ trốn. Ngày 14/7/1990 bị bắt trả lại trường cưỡng bức lao động.
- - Ngày 23/7/1990, Ủy ban nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh đưa đi cưỡng bức lao động 12 tháng về hành vi Trốn khỏi nơi giam giữ.
- - Ngày 23/8/1991, Công an quận G, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi Trộm cắp tài sản của công dân, bị đưa đi cưỡng bức lao động 12 tháng
- - Ngày 25/01/1992, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù giam về tội Trộm cắp tài sản của công dân (bản án số 10/HSST)
- - Ngày 27/3/1993, Công an huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi Trộm cắp tài sản của công dân, bị đưa đi cưỡng bức lao động 12 tháng
- - Ngày 29/9/1994, Công an quận P, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi Trộm cắp tài sản của công dân, bị đưa đi cưỡng bức lao động 12 tháng
- - Ngày 03/6/1997, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù giam về tội: “Trộm cắp tài sản” (bản án số 872/HSST).
- - Ngày 12/5/2004, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù giam về tội: “Cướp giật tài sản” (bản án số 723/HSST) (đã đóng án phí)
- - Ngày 13/11/2019, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 01 năm 03 tháng.
Tạm giam từ ngày 10/6/2023 (có mặt).
- Người tham gia tố tụng:
- + Người bị hại: Bà Lê Thị Thanh H1
- Địa chỉ: C P, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thanh P sống lang thang, không có việc làm. Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 08/6/2023, P nằm ngủ tại vỉa hè của nhà người dân phía trước siêu thị E, đường P, phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 04 giờ 00 phút ngày 09/6/2023, P đi bộ từ siêu thị E vào đường L, hướng từ phường E, quận G về phường A, quận B để tìm tài sản sơ hở trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi ngang qua nhà trọ địa chỉ số C P, phường A, quận B, P nhìn vào bên trong dãy nhà trọ phát hiện trước cửa phòng số 2 (là phòng của vợ chồng anh Phạm Tấn P1 và chị Lê Thị Thanh H1), ngay lối đi của dãy nhà trọ có để 01 xe gắn máy Honda Vision, biển số 77D1-409.90 nên nảy sinh ý định trộm cắp. P đến vị trí để xe, kiểm tra thấy xe không khóa cổ, không đóng nắp khóa từ, P dắt xe ra phía trước khu nhà trọ rồi cắm chìa khóa xe của hãng Y mà P mang theo vào ổ khóa điện của xe Honda Vision rồi đẩy bộ đi về hướng ngã tư P - N, quận G, mục đích để người đi đường hỏi thì P nói là xe hết xăng. Khi P đẩy xe Honda Vision đi qua quán N, địa chỉ 50/2/35 đường D, phường E, quận G do anh Phạm Tấn P1 làm chủ. Lúc này 02 nhân viên của anh P1 là Lương Thanh M và Phạm Võ Đăng L thấy xe gắn máy Honda V mà P đang đẩy bộ có đặc điểm giống với xe của anh P1 nên đã điện thoại cho anh P1 kiểm tra có bị mất xe không, anh P1 xác nhận đã bị mất trộm xe nên M và L đuổi theo đến trước số A P, phường G, quận G thì bắt giữ được P cùng tang vật bàn giao cho Công an phường A, quận B lập hồ sơ chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận B xử lý.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận B, Nguyễn Thanh P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Căn cứ kết luận định giá tài sản số 134/KLGĐTS-TCKH ngày 14/7/2023 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự quận B kết luận: 01 xe gắn máy 02 bánh hiệu Honda Vision, biển số 77D1- 409.90 có trị giá 20.000.000 đồng.
Thu giữ, xử lý vật chứng:
- - 01 xe gắn máy Honda Vision, biển số 77D1-409.90. Số khung: RLHJF5816GY663730, số máy: JF66E-0663759. Xét tài sản hợp pháp của chị Lê Thị Thanh H1. Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận B đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Phạm Tấn P1, là chồng của Lê Thị Thanh H1.
- - 01 chìa khóa xe hiệu YAMAHA, P dùng để cắm vào ổ khóa điện của xe Honda Vision, biển số 77D1-409.90.
- - 01 áo khoác màu xanh đen có dòng chữ GOJECK màu trắng, 01 quần dài bằng vải màu đen, 01 nón bảo hiểm màu xanh đen có chữ GOJECK, 01 áo thun ngắn tay màu xanh, 01 đôi dép màu đen, 01 giỏ xách màu nâu, là trang phục P mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
- - 01 USB ghi nhận hình ảnh P thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Lê Thị Thanh H1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu về dân sự.
Tại bản cáo trạng số 163/CT-VKSBTh ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu. Bị cáo thống nhất với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã nêu, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, không oan sai.
Sau khi kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Đề nghị xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì, cũng không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận: Bị cáo là người sống lang thang, do không có tiền tiêu xài nên khoảng 04 giờ 00 phút ngày 09/6/2023 bị cáo đi tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đên trước phòng số 2, nhà trọ số C P, phường A, quận B thì nhìn thấy 01 xe gắn máy không có người trông coi, không khóa cổ nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe gắn máy Honda Vision, biển số 77D1-409.90 của chị Lê Thị Thanh H1. Khi đang trên đường đem xe đi cất giấu tìm chỗ bán thì bị người dân đuổi theo lấy lại tài sản.
Căn cứ kết luận định giá tài sản số 134/KLGĐTS-TCKH ngày 14/7/2023 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự quận B kết luận: 01 xe gắn máy 02 bánh hiệu Honda Vision, biển số 77D1-409.90 có trị giá 20.000.000 đồng.
Lời khai nhận tội bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách hiệm hình sự:
Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức để nhận biết được hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị cáo đã thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của bị hại, đây là hành vi mà pháp luật nghiêm cấm. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an ninh xã hội, gây hoang mang cho người dân.
Nhân thân bị cáo là đặc biệt xấu: Từ năm 1986 đến nay, bị cáo đã nhiều lần thực hiện các hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, nhiều lần đưa đi giáo dục và bị xét xử tại tòa án; Tuy bị cáo đã thi hành xong các bản án và đã nộp án phí, nhưng bị cáo tiếp tục phạm tội, qua đó thể hiện bị cáo có ý thức coi thường pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án tù nghiêm khắc để giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.
Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo; tài sản đã thu hồi trả lại cho người bị hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về xử lý vật chứng:
- + 01 xe gắn máy Honda Vision, biển số 77D1-409.90, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Phạm Tấn P1, là chồng của Lê Thị Thanh H1.
- + 01 chìa khóa xe hiệu YAMAHA, P dùng để cắm vào ổ khóa điện của xe Honda Vision, biển số 77D1-409.90. 01 áo khoác màu xanh đen có dòng chữ GOJECK màu trắng, 01 quần dài bằng vải màu đen, 01 nón bảo hiểm màu xanh đen có chữ GOJECK, 01 áo thun ngắn tay màu xanh, 01 đôi dép màu đen, 01 giỏ xách màu nâu, là trang phục P mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Đây là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- + 01 USB ghi nhận hình ảnh P thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cần tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s, h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/6/2023.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 chìa khóa xe hiệu YAMAHA, 01 áo khoác màu xanh đen có dòng chữ GOJECK màu trắng, 01 quần dài bằng vải màu đen, 01 nón bảo hiểm màu xanh đen có chữ GOJECK, 01 áo thun ngắn tay màu xanh, 01 đôi dép màu đen, 01 giỏ xách màu nâu.
Theo Biên bản giao nhận vật chứng lập hồi 14 giờ 30 phút ngày 20 tháng 9 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
Bị cáo và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Hoan |
Bản án số 166/2023/HSST ngày 02/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 166/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh P 173
