Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH LƯU

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 166/2022/HS-ST

Ngày 23 - 11 - 2022

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Huệ và ông Đậu Cao Nhu.

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Nga – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 153/2022/TLST-HS ngày 08/11/2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 182/2022/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Đình T (tên gọi khác: Không), sinh năm 1984; tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ M hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Đìn H (đã chết); con bà Lê Thị M, sinh năm 1946 (đã chết); có vợ Hồ Thị G, sinh năm 1986; con: Có 02 người, lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 09/5/2006, Đánh bạc bị Công an huyện Quỳnh Lưu xử phạt vi phạm hành chính số tiền 500.000 đồng (đã nộp phạt ngày 09/9/2006); ngày 25/10/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa xử 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt tiền bổ sung 5 triệu đồng (chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/9/2016; được miễn khoản tiền phạt bổ sung theo quyết định số 17 ngày 26/9/2019 của Chi cục THADS huyện Quỳnh Lưu); ngày 29/5/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã Hoàng M, tỉnh Nghệ An xử 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/6/2018); bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2022 cho đến nay - Có mặt.

- Bị hại:

  1. Chị Đặng Thị M, sinh năm 1980 – Có mặt.

    Nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

  2. Anh Đậu Đức T, sinh năm 1987 – Vắng mặt.

    Nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

1

  1. Anh Nguyễn Hữu K, sinh năm 1982 - Vắng mặt.

    Nơi cư trú: Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Hồ Thị H, sinh năm 1998 – Vắng mặt ( Có đơn đề nghị xử vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn 3, xã Quỳnh H, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 23/7/2022 Nguyễn Đình T đi bộ từ nhà đến sân bóng xã Quỳnh M thuộc thôn 8, xã Quỳnh M, huyện Quỳnh Lưu. Khi đến nơi, T nhìn thấy có một chiếc xe máy nhãn hiệu BOSYMAX, màu nâu, Biển kiểm soát 61E1-193.56 của chị Đặng Thị M (sinh năm 1980, trú tại thôn 15, xã Quỳnh M, huyện Quỳnh Lưu) đang dựng gần cổng sân bóng xã Quỳnh M, không có người trông coi nên T đi lại gần và thấy chìa khóa xe đang cắm sẵn ở ổ khóa nên ngồi lên xe và nổ máy rồi điều khiển xe đi đến quán thu mua sắt vụn của chị Hồ Thị H (sinh năm 1998, trú tại thôn 3, xã Quỳnh H, huyện Quỳnh Lưu) để bán chiếc xe này cho chị H lấy số tiền 800.000 đồng và mua ma túy sử dụng hết. Sau khi mua chiếc xe này của T đến sáng ngày 24/7/2022, chị H đã bán lại cho người không quen biết đi thu mua sắt vụn số tiền 900.000 đồng.

Kết luận định giá số 344/KL-TCKH, ngày 02/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS của UBND huyện Quỳnh Lưu kết luận: Chiếc xe máy nhãn hiệu BOSYMAX, số khung UMAXB01220, số máy FMG001220, có giá trị là 1.500.000 đồng.

Lần thứ hai: Vào khoảng 15 giờ 30 ngày 31/7/2022 T đi bộ đến nhà anh Nguyễn Đình N (trú tại thôn 6, xã Quỳnh M là anh trai T) để chơi. Khi đi đến gần nhà M hóa thôn 6, xã Quỳnh M, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An thì T phát hiện có 04 chiếc xe máy đang dựng dưới gốc cây xà cừ, trong đó có một chiếc xe máy nhãn hiệu LISOHAKA, màu sơn xanh, biển kiểm soát 74F5 – 7646 của anh Đậu Đức T (sinh năm 1987, trú tại thôn 5, xã Quỳnh M) chìa khóa đang cắm ở ổ khóa dưới yên xe. T quan sát xung quanh không có ai nên đã đến đẩy chiếc xe mô tô của anh Đậu Đức T ra đường rồi rút chìa khóa ở dưới yên xe lên cắm vào ổ khóa và điều khiển xe đi đến cửa hàng thu mua sắt vụn của chị Hồ Thị H (sinh năm 1998, trú tại thôn 3, xã Quỳnh H, huyện Quỳnh Lưu) để bán. Khi gặp chị H, T nói “Có cái xe anh đi lấy nợ khi đi bán vôi, họ không dùng nữa nên họ gạt xe lại, em mua được mấy tiền” thì chị H nói: “Những xe này tính theo giá sắt vụn, mua với giá 800.000 đồng”. Sau đó, T đồng ý bán chiếc xe trên cho chị H với giá 800.000 đồng rồi mua ma túy sử dụng hết. Đến sáng ngày 01/8/2022, T đến nhà chị Hồ Thị H hỏi mượn lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 74F5 – 7646 mà T đã bán cho chị H ngày hôm trước để đi công việc thì chị H đồng ý cho T mượn.

Kết luận định giá số 344/KL-TCKH ngày 02/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS của UBND huyện Quỳnh Lưu kết luận: Chiếc xe máy nhãn hiệu

2

LISOHAKA, số khung PCG012LK*111204, số máy OFMG2*000111204, có giá trị là 2.700.000 đồng.

Lần thứ ba: Vào khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 01/8/2022, T đi bộ từ nhà ra ngã tư M Bảng rồi đi nhờ xe lên xã Quỳnh H, huyện Quỳnh Lưu. Khi đi đến dốc Ngạn (thuộc thôn 4, xã Quỳnh M, huyện Quỳnh Lưu) T phát hiện thấy có một chiếc xe máy nhãn hiệu ARROW, màu sơn xanh, không gắn biển kiểm soát của anh Nguyễn Hữu K (sinh năm 1982, trú tại thôn 4, xã Quỳnh M, huyện Quỳnh Lưu) đang dựng bên đường không có người trông coi nên T đi đến và ngồi lên nổ máy điều khiển xe đi đến quán thu mua sắt vụn của chị Hồ Thị H (sinh năm 1998, trú tại thôn 3, xã Quỳnh H) để bán chiếc xe trên. Khi T đưa xe đến, chị H kiểm tra xe thấy xe không nổ nên nói với T “Xe này cũ rồi, em mua với giá 750.000 đồng thôi”, T đồng ý bán chiếc xe với giá 750.000 đồng cho chị H rồi mua ma túy sử dụng, còn lại số tiền 185.000 đồng.

Kết luận định giá số 344/KL-TCKH ngày 02/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Quỳnh Lưu kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu ARROW, số khung CH3CX-51003854, số máy R150FMHA-004227, có giá trị 1.000.000 đồng.

Ngày 01/8/2022, Công an xã Quỳnh M, huyện Quỳnh Lưu đã nhận được đơn trình báo về việc mất tài sản của các bị hại gồm chị Đặng Thị M, anh Đậu Đức T và anh Nguyễn Hữu K.

Sáng ngày 02/8/2022, Nguyễn Đình T đến Công an xã Quỳnh M, huyện Quỳnh Lưu để đầu thú và giao nộp chiếc xe mô tô nhãn hiệu LISOHAKA, màu sơn xanh, đăng ký biển kiểm soát 74F5 – 7646 và giao nộp số tiền 185.000 đồng.

Kết luận giám định số 303/KL-KTHS (Đ3-TL) ngày 27/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Số tiền 185.000 đồng là tiền thật.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đình T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số 168/CT-VKS-QL ngày 03 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Nguyễn Đình T về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS.
  • Xử phạt Nguyễn Đình T từ 12 đến 15 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản"; không phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
  • Về vật chứng: Áp dụng Điều 46 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
  • Trả lại cho anh Đậu Đức T 01 máy nhãn hiệu LISOHAKA. Trả lại cho anh Nguyễn Hữu K 01 xe máy nhãn hiệu ARROW. Trả lại cho bị cáo Nguyễn M T số tiền 185.000 đồng.
  • Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS; Điều 30 BLTTHS; Điều 589 BLDS.
  • Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Đặng Thị M số tiền 1.500.000đồng.

3

Chị Hồ Thị H không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã mua xe máy của bị cáo lấy trộm nên không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu trong hồ sơ có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 15 giờ 30 ngày 31/7/2022, Nguyễn Đình T đã lấy trộm 01 chiếc xe máy nhãn hiệu LISOHAKA, màu sơn xanh, đăng ký biển kiểm soát 74F5-7646 của anh Đậu Đức T có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt là 2.700.000 đồng. Hành vi mà bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản"; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS như quy kết của đại diện Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án có tính chất ít nghiêm trọng; Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng đã thực hiện hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn dân cư, thể hiện sự xem thường pháp luật. Bị cáo hai lần bị Toà án xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương nhưng bị cáo không coi đó là bài học để rèn luyện bản thân mà còn tiếp tục trộm cắp tài sản. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cảm hóa, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo và sau khi bị phát hiện bị cáo đã đầu thú là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, bị áp dụng hình phạt tù nên không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

4. Về xử lý vật chứng:

4

Đối với 01 chiếc xe máy 01 máy nhãn hiệu LISOHAKA, màu sơn xanh, đăng ký biển kiểm soát 74F5 – 7646 là tài sản của anh Đậu Đức T và 01 chiếc xe máy nhãn hiệu ARROW màu sơn xanh, đăng ký biển kiểm soát 74F5 – 7646 là tài sản của anh Nguyễn Hữu K nên cần trả lại cho chủ sở hữu.

Về trách nhiệm dân sự:

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu BOSYMAX là tài sản hợp pháp của chị Đặng Thị M được định giá 1.500.000 đồng không thu hồi được nên cân buộc bị cáo bồi thường cho chị M.

Chị Hồ Thị H không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền đã mua xe máy của bị cáo (BL 68) nên số tiền 185.000 đồng mà bị cáo tự nguyện nộp cần trả lại cho T.

Đối với hành vi trộm cắp chiếc xe máy nhãn hiệu BOSYMAX của chị Đặng Thị M có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt là 1.500.000 đồng và chiếc xe mô tô nhãn hiệu ARROW của anh Nguyễn Hữu K có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt là 1.000.000 đồng, giá trị tài sản chiếm đoạt chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, bản thân Nguyễn Đình T chưa có tiền án, tiền sự về tội trộm cắp tài sản nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.

Chị Hồ Thị H là người đã mua 03 chiếc xe mô tô là tài sản do T trộm cắp nhưng tại thời điểm mua bán chị H không biết những tài sản đó do phạm tội mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt Nguyễn Đình T 09 (Chín) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 02/8/2022; không phạt tiền bổ sung.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 BLHS; Điều 30 BLTTHS; Điều 589 BLDS.

Buộc bị cáo Nguyễn Đình T phải bồi thường cho chị Đặng Thị M số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

Về vật chứng: Căn cứ Điều 46 BLHS; Điều 106 BLTTHS.

Trả lại cho anh Đậu Đức T 01 chiếc xe máy nhãn hiệu LISOHAKA, dung tích xilanh 97cm³, màu sơn xanh (theo đăng ký xe mô tô, xe máy là màu sơn đỏ), số khung PCG012LK*111204, số máy OFMG2*000111204, không gắn biển kiểm soát; trả lại cho anh Nguyễn Hữu K 01 chiếc xe máy nhãn hiệu ARROW, dung tích xilanh 109cm³, màu sơn xanh, số khung CH3CX-51003854, số máy R150FMHA-004227, không gắn biển kiểm soát (Đặc điểm các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng lập vào hồi 16 giờ ngày 04/11/2022 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Quỳnh Lưu với Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An).

5

Trả lại cho Nguyễn Đình T số tiền 185.000 đồng (Đặc điểm theo giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tại kho bạc Nhà nước huyện Quỳnh Lưu ngày 04/11/2022 số tài khoản 3949.0.104.7949.00000 số tiền 185.000đ (Một trăm tám mươi lăm nghìn đồng).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc Nguyễn Đình T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND h.Quỳnh Lưu;
  • - Cơ quan điều tra h.Quỳnh Lưu;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự h.Quỳnh Lưu;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở tư pháp Nghệ An;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - UBND xã Q (để biết);
  • - Chi cục THADS h. Quỳnh Lưu;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Hồ Sỹ Mạnh

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 166/2022/HS-ST ngày 23/11/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 166/2022/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/11/2022
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Đình T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger