Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án: 1659/2024/HNGĐ-ST.

Ngày: 03/5/2024.

V/v tranh chấp ly hôn.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thúy Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Tiến Dũng.
  2. Bà Nguyễn Thị Hương.

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Bình Minh- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh P- Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2055/2023/TLST-HNGĐ ngày 03/10/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1316/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 19/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1929/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09/4/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đặng Thị P1, sinh năm: 1994;

Địa chỉ: ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng;

(có đơn xin xét xử vắng mặt);

Bị đơn: Anh Lê Văn C, sinh năm: 1969;

Địa chỉ thường trú: A đường số A, khu phố G, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;

Chổ ở hiện nay: Nhà không số (kế nhà số A) đường số A, khu phố G, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 16/11/2023; nguyên đơn chị Đặng Thị P1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn C tự nguyện quan biết, tìm hiểu và yêu thương nhau từ năm 2015 đến ngày 11/4/2016 tiến đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh;

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian đến năm 2018 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, khác biệt về sở thích nên thường xuyên cãi vả dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Mặc dù, gia đình hai bên nội- ngoại đã hòa giải, khuyên nhủ nhưng cả hai vợ chồng vẫn không thể hàn gắn, không ai quan tâm đến ai, mỗi người tự lo cho cuộc sống riêng của mình. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Tình cảm vợ chồng dành cho anh Lê Văn C hiện nay không còn, chị làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn C;

Về con chung: Có 01 con chung tên là Lê Thị Khánh B, sinh ngày: 09/8/2016.

- Tại đơn khởi kiện ngày 20/7/2023, chị yêu cầu về con chung như sau:

Chị yêu cầu là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Lê Thị Khánh B; yêu cầu anh Lê Văn C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 5.000.000 (Năm triệu) đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi;

- Ngày 15/3/2024, chị có đơn khởi kiện thay đổi, bổ sung về con chung với nội dung: Chị yêu cầu là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Lê Thị Khánh B; chị không yêu cầu anh Lê Văn C cấp dưỡng nuôi con chung;

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này;

Ngoài ra, chị không có yêu cầu gì khác.

* Bị đơn anh Lê Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa:

- Chị Đặng Thị P1 vắng mặt, do có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Bị đơn anh Lê Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định của pháp luật;

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị P1 được ly hôn với anh Lê Văn C;

+ Về con chung: Giao con chung tên là Lê Thị Khánh B, sinh ngày: 09/8/2016 cho chị Đặng Thị P1 là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi thành niên; anh Lê Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Đặng Thị P1 chưa có yêu cầu;

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ vào Đơn khởi kiện của chị Đặng Thị P1, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án ly hôn theo yêu cầu một bên, bị đơn là anh Lê Văn C cư trú tại địa chỉ nhà không số (kế nhà số A) đường số A, khu phố G, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; xét đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Anh Lê Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa; nguyên đơn chị Đặng Thị P1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

- Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Đặng Thị P1 và anh Lê Văn C là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp được pháp luật công nhận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 43/2016 của Ủy ban nhân dân phường L, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11/4/2016;

Căn cứ vào đơn yêu cầu xin ly hôn và lời trình bày của chị Đặng Thị P1, Hội đồng xét xử xác định quan hệ vợ chồng giữa chị P1 và anh C có mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, khác biệt về sở thích nên thường xuyên cãi vả. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị P1 và anh C thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; vợ chồng sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Các đương sự không có hàn gắn, giải quyết được các mâu thuẫn phát sinh trong cuộc sống hôn nhân.

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhưng anh C vắng mặt không có lý do thể hiện anh C không có mong muốn hòa giải đoàn tụ, không mong muốn hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P1;

- Về con chung: Có 01 con chung tên là Lê Thị Khánh B, sinh ngày: 09/8/2016.

Tại Biên bản lấy ý kiến đối với trẻ Lê Khánh B vào ngày 16/11/2023, trẻ Lê Thị Khánh B trình bày trong trường hợp cha mẹ ly hôn thì nguyện vọng của trẻ B là được ở với mẹ ruột vì hiện nay đang ở với mẹ ruột;

Căn cứ vào Công văn số 821/UBND ngày 19/12/2023 của Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh v/v trả lời xác minh hôn nhân có nội dung: Anh C và chị P1 không liên hệ yêu cầu giải quyết mâu thuẫn. Tình trạng hôn nhân, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa anh C và chị P1 cũng như vấn đề con chung, giải quyết con chung; Ủy ban nhân dân phường không được rõ;

Xét thấy, hiện nay trẻ B đang được chị P1 chăm sóc và nuôi dưỡng; đồng thời, nguyện vọng của trẻ B được ở với chị P1 trong trường hợp cha mẹ ly hôn nên để đảm bảo sự phát triển toàn diện, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của trẻ, để tránh gây tổn thất về tinh thần, sức khỏe cũng như hạn chế việc xáo trộn môi trường sống và giáo dục của trẻ nên Hội đồng xét xử xét thấy; giao trẻ Băng cho chị P1 trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị P1 chưa có yêu cầu là có căn cứ chấp nhận;

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, chị P1 phải chịu toàn bộ số tiền án phí HNST số tiền là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các điều 51, 54, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014);

- Căn cứ vào điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị P1 được ly hôn với anh Lê Văn C;

(Giấy chứng nhận kết hôn số 43/2016 do Ủy ban nhân dân phường L, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11/4/2016 không còn giá trị pháp lý).

- Về con chung: Giao con chung tên là Lê Thị Khánh B, sinh ngày: 09/8/2016 cho chị Đặng Thị P1 là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi thành niên, anh Lê Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Đặng Thị P1 chưa có yêu cầu;

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ; người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Khi cần thiết đương sự có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết;

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí HNST là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2023/0004819 ngày 20/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên đơn đã nộp đủ án phí HNST.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - Đương sự (2);
  • - TAND Tp. HCM (1);
  • - VKSND TP. Thủ Đức (2);
  • - Chi cục THADS TP.Thủ Đức; (1);
  • - Cơ quan đăng ký kết hôn (1);
  • - Lưu VP, hồ sơ vụ án (6).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thúy Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1659/2024/HNGĐ-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 1659/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh châp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger