|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 165/2023/HS – ST. Ngày: 29/11/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Duy Tính.
2. Ông Trần Đình Đậu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Bích Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 173/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 222/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Ngô Việt Đ
sinh ngày 09/4/1981; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ I, khu H, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngô Thái L (đã chết), Con bà: Phạm Thị S, sinh năm 1947. Trú tại khu H, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Vợ, con: Chưa có.
- Tiền án: 01 tiền án:
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2021/HS-ST ngày 01/6/2021 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt Ngô Việt Đ 18 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Đ chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/11/2022.
- Tiền sự: Không;
- Nhân thân:
+ Ngày 10/2/2004, Công an phường B, thành phố V đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Ngô Việt Đ về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý dưới hình thức phạt tiền. Đ đã chấp hành xong ngày 10/2/2004;
+ Ngày 26/12/2005, Công an thành phố V đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Ngô Việt Đ về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý dưới hình thức phạt tiền. Đ đã chấp hành xong ngày 26/12/2005;
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 155/2011/HSST ngày 15/7/2011 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt Ngô Việt Đ 30 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Đ đã chấp hành xong toàn bộ Bản án vào ngày 26/4/2013.
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 257/2013/HSST ngày 25/12/2013 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt Ngô Việt Đ 33 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Đ đã chấp hành xong toàn bộ Bản án vào ngày 21/4/2016.
Bị cá bị tạm giữ từ ngày 05/10/2023 đến ngày 10/10/2023, Cơ quan điều tra ra Quyết định khởi tố bị can, chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh P.(Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 40 phút ngày 05/10/2023 tại khu vực thuộc tổ H, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác Công an thành phố V đang làm nhiệm vụ thì phát hiện 01 người đàn ông có biểu hiện vi phạm pháp luật. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra người này tự khai tên là Ngô Việt Đ – Sinh ngày 09/4/1981, HKTT: Tổ 9, khu H, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Quá trình kiểm tra Đ tự giác lấy từ túi quần bên phải phía trước Đ đang mặc ra giao nộp cho Cơ quan Công an 01 gói nilon có đặc điểm mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng, bên trong chứa chất bột cục màu trắng. Đ khai nhận đây là gói ma tuý heroine của Đ, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tại chỗ cơ quan Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đ, niêm phong thu giữ gói nilon nói trên. Ngoài ra còn thu giữ của Đ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu ITEL màu đen đã cũ số imei 1 (trong nguồn): 355149118495346 kèm 02 sim số 0326321146 và 0395667569; Tiền Việt Nam 130.000 đồng (một trăm ba mươi nghìn đồng).
Công an thành phố V đã tiến hành kiểm tra xét nghiệm ma túy bằng que thử nước tiểu đối với Ngô Việt Đ. Kết quả dương tính, Đ có sử dụng chất ma túy.
Ngày 05/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V ra Quyết định trưng cầu giám định chất bột cục màu trắng chứa bên trong gói giấy thu giữ của Đ. Kết luận giám định số 1297/KL-KYHS ngày 09/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh P:
“Chất bột cục màu trắng chứa bên trong 01 gói giấy gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 0,187 gam, loại heroine, có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.”
Hoàn trả lại 0,110 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong túi niêm phong.
Về nguồn gốc số ma tuý đã thu giữ khi bắt quả tang, Ngô Việt Đ khai nhận:
Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên khoảng 7 giờ 00 phút ngày 05/10/2023, Đ một mình đi xuống khu vực chợ T thuộc huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua ma tuý. Tại đây, Đ gặp một người đàn ông giới thiệu tên là C khoảng 50 tuổi, hỏi và mua được 01 gói ma tuý (heroine) có đặc điểm gói nilon mặt ngoài và mặt trong màu trắng, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng với giá 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng). Sau đó C đi đâu Đ không biết, Đ cầm gói ma tuý đi về. Khi đi đến khu vực cổng bệnh viện Đa khoa tỉnh P thì có tổ công tác công an thành phố V tiến hành kiểm tra, quá trình kiểm tra Đ đã tự giác giao nộp gói ma tuý đang cất giấu tại túi quần bên phải phía trước giao nộp cho cơ quan công an và khai nhận đây là gói ma tuý heroin của Đ để sử dụng cho bản thân. Tại chỗ Cơ quan công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong gói ma túy vào một bì giấy dán kín, thu giữ vật chứng, tài sản như đã nêu trên.
Ngoài ra, Đ còn khai nhận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 04/10/2023 Đ một mình đi xuống khu vực gần chợ T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua ma tuý. Tại đây Đ gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi 01 gói ma tuý heroine có đặc điểm là gói giấy hai mặt màu trắng bên trong có chứa chất bột cục màu trắng với giá 200.000đ. Sau đó Đ đi đến khu vực vắng người gần đó sử dụng hết cho bản thân.
Về vật chứng, tài sản bị thu giữ: 01 bì niêm phong dán kín của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả bên trong có chứa 0,110 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu ITEL màu đen đã cũ số imei 1 (trong nguồn): 355149118495346 kèm 02 sim số 0326321146 và 0395667569, đây là điện thoại di động của Đ dùng để liên lạc hàng ngày không liên quan đến hành vi phạm tội. Tiền Việt Nam 130.000 đồng là tiền do Đ lao động mà có. Vật chứng và tài sản trên đều đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì.
Tại bản cáo trạng số 164 /CT-VKS-VT ngày 14 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì đã truy tố bị cáo Ngô Việt Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Ngô Việt Đ, Đại diện VKSND thành phố Việt Trì trình bày bản luận tội đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Việt Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt chính: Áp dụng dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Ngô Việt Đ mức hình phạt từ: 36 (Ba mươi sáu) đến 39 (Ba mươi chín) tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu ITEL màu đen đã cũ số imei 1 (trong nguồn): 355149118495346; Tiền Việt Nam 130.000 đồng (một trăm ba mươi nghìn đồng) của Ngô Việt Đ.
- Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ Luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Tịch thu, tiêu hủy: 0,110 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giam định đựng trong 01 bì niêm phong số 1297/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả.
+ Tịch thu tiêu hủy: 02 sim số 0326321146 và 0395667569
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận, đối đáp gì với đại diện VKSND TP Việt Trì. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét tuyên bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết dịnh tố tụng: Quá trình điều tra, Cơ quan tiến hành tố tụng, nguời tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 08 giờ 30 phút ngày 05/10/2023, tại tổ H, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Ngô Việt Đ có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,187 gam ma túy heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an thành phố V kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang thu giữ vật chứng..
Bị cáo Ngô Việt Đ là người có năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc tàng trữ, mua bán ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật. Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy. Hiện nay, tình hình nghiện ma túy đang diễn ra phức tạp, tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội, hành vi của bị cáo không chỉ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người mà còn là nguyên nhân dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi nêu trên của bị cáo Ngô Việt Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Ngô Việt Đ là người có nhân thân xấu. Ngày 10/2/2004, Công an phường B, thành phố V đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Ngô Việt Đ về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý dưới hình thức phạt tiền, Đ đã chấp hành xong ngày 10/2/2004; Ngày 26/12/2005, Công an thành phố V đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Ngô Việt Đ về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý dưới hình thức phạt tiền, Đ đã chấp hành xong ngày 26/12/2005; Bản án hình sự sơ thẩm số 155/2011/HSST ngày 15/7/2011 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt Ngô Việt Đ 30 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, Đ đã chấp hành xong toàn bộ Bản án vào ngày 26/4/2013; Bản án hình sự sơ thẩm số 257/2013/HSST ngày 25/12/2013 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt Ngô Việt Đ 33 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, Đ đã chấp hành xong toàn bộ Bản án vào ngày 21/4/2016.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bố mẹ bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2021/HS-ST ngày 01/6/2021 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt Ngô Việt Đ 18 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/11/2022. Bị cáo chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Xét hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy rằng cần có mức hình phạt nghiêm khắc là cách ly bị cáo khỏi cộng đồng một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Theo xác minh của cơ quan điều tra, bị cáo không có tài sản gì có giá trị ngoài 01 điện thoại di động nhãn hiệu ITEL màu đen đã cũ số imei 1 (trong nguồn): 355149118495346, đây là điện thoại di động của Đ dùng để liên lạc hàng ngày không liên quan đến hành vi phạm tội. Tiền Việt Nam 130.000 đồng là tiền do bị cáo lao động mà có nên cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với 0,110 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giam định đựng trong 01 bì niêm phong số 1297/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả là chất ma túy nhà nước cấm tàng trữ mua bán và không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 02 sim số 0326321146 và 0395667569 kèm trong máy của Đ không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông tên C đã bán ma túy cho Đ ngày 05/10/2023 và người đàn ông đã bán ma tuý cho Đ ngày 04/10/2023 tại khu vực gần chợ T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, do Đ không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của Đ, không có tài liệu nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không xác định được.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đ, ngày 04/10/2023 Công an thành phố V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đ bằng hình thức Cảnh cáo là đúng quy định.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên bố: Bị cáo Ngô Việt Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Ngô Việt Đ 39 (Ba chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/10/2023.
2. Hình phạt bổ sung:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu ITEL màu đen đã cũ số imei 1 (trong nguồn): 355149118495346 của Ngô Việt Đ.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/11/2023 tại Chi cục thi hành án Dân sự TP Việt Trì).
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 130.000 đồng (Một trăm ba mươi nghìn đồng) của Ngô Việt Đ.
(Theo biên lai thu tiền số 0004479 ngày 15/11/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự TP Việt Trì)
3. Xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 1297/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P trả lại bên trong có 0,110 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định đựng trong mẫu vật thu giữ của Ngô Việt Đ, sinh năm 1981; HKTT: Tổ 9, Hòa Bình, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Tịch thu tiêu hủy: 02 sim số 0326321146 và 0395667569 của Ngô Việt Đ.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/119/2023 tại Chi cục thi hành án Dân sự TP Việt Trì).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Buộc bị cáo Ngô Việt Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Thu Trang |
Bản án số 165/2023/HS – ST ngày 29/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về tàng trữ trái phép chất ma tuý (criminal case)
- Số bản án: 165/2023/HS – ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Việt Đ phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
