|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 165/2024/HS-ST Ngày: 17-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Thu Hương
Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Hoàng Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Đăng Nghĩa – Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân thành phố Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 167/TLST-HS ngày 24/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Mai Thế D, sinh ngày 07/11/1994 tại Thái Nguyên; nơi cư trú: tổ F, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn C, sinh năm 1962 và bà Hoàng Thị Bích T, sinh năm: 1969, nơi cư trú: tổ F, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có vợ Vũ Thị Tùng L (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2010 (không rõ địa chỉ); Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 28/3/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, ngày 31/10/2016 bị Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 2.500.000đ về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác, ngày 18/4/2019 bị Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 200.000đ về hành vi gây rối trật tự công cộng; đảng phái: không. Bị cáo bị bắt ngày 28/02/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ. Có mặt.
- Họ và tên: Vũ Văn S, sinh ngày: 07/01/2001 tại: Hải Phòng; nơi cư trú: xóm F, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: nhân viên thu ngân; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn Q (đã chết) và bà: Nguyễn Thị X, sinh năm: 1963, nơi cư trú: xóm F, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt từ ngày 28/7/2023 đến ngày 05/01/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Hiện đang tại ngoại tại xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
- Bị hại: ông Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1983, trú tại: số B đường T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phan Văn D1, sinh năm: 1986, trú tại: số A đường số C, khu công nghiệp V S, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 14/12/2022, ông Nguyễn Văn T1, ông Phan Văn D1 và ông Cao Văn Đ đang ngồi ăn tối ở khu vực bến xe T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng thì Mai Thế D điều khiển ô tô chở Vũ Văn S là nhân viên quán K ở số C đường H, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng đến đòi ông T1 tiền nợ hát Karaoke của quán X1 nhưng ông T1 nói không nợ tiền nên S đánh một cái vào người ông T1. Do bị S đánh nên ông T1, ông D1, ông Đ cùng đứng dậy đẩy S ra bên ngoài. Thấy vậy, D ra xe ô tô mở cốp lấy một cây gậy ba khúc rồi lao vào đánh nhiều cái vào người của ông T1 và ông D1. Lúc này, S cũng lao vào dùng tay, chân đánh vào người của ông T1 và ông D1. Sau đó, được người dân can ngăn nên D và S bỏ đi, còn ông T1 và ông D1 được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh L cấp cứu.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 79/23-KLTTCT/PYLÐ ngày 03 tháng 3 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận: Nguyễn Văn T1 bị gẫy lún xương thái dương (P) và gò má (P) với tỷ lệ tổn thương cơ thể do vật tày cứng gây nên là 18%.
Bị hại là ông Nguyễn Văn T1 xác định bị cáo S đã bồi thường thiệt hại số tiền 10.000.000đ, ông không có yêu cầu gì đối với bị cáo S và xin nhẹ hình phạt cho bị cáo S. Đối với bị cáo D thì ông T1 yêu cầu bị cáo D bồi thường số tiền 10.000.000đ.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Phan Văn D1 bị thương tích phần mềm vùng mặt. Tại Bản kết luận giám định số: 93/23-KLTTCT/PYLĐ ngày 10 tháng 3 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể của Phan Văn D1 tại thời điểm giám định là: 0%.
Tại Bản cáo trạng số 183/CT-VKSÐL-LĐ ngày 24/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố bị cáo Mai Thế D, Vũ Văn S về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận khoảng 21 giờ ngày 14/12/2022, bị cáo D dùng gậy ba khúc và bị cáo S dùng tay chân đánh vào người bị hại ông T1, hậu quả tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với ông T1 là 18%.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt giữ nguyên cáo trạng truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Mai Thế D từ 30 đến 36 tháng tù.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn S từ 24 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng.
Buộc bị cáo Mai Thế D bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Văn T1 số tiền 10.000.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, các biên bản làm việc, biên bản xác minh, biên bản đối chất, và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: khoảng 21 giờ ngày 14/12/2022, tại khu vực bến xe T, Phường A, thành phố Đ, bị cáo S yêu cầu ông T1 trả tiền nợ hát Karaoke trước đó cho quán K nhưng ông T1 không đồng ý nên xảy ra mâu thuẫn. Bị cáo D dùng gậy ba khúc là hung khí nguy hiểm đánh nhiều cái vào người bị hại. Bị cáo S thấy vậy cũng dùng tay, chân đánh vào người bị hại. Hậu quả, ông T1 bị gẫy lún xương thái dương (P) và gò má (P) với tỷ lệ tổn thương cơ thể do vật tày cứng gây nên là 18%. Do đó, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt của bị cáo được quy định tại đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
[3] Trong vụ án này có hai bị cáo tham gia, nhưng khi thực hiện hành vi thể hiện không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự phân công, bàn bạc thống nhất từ trước nên chỉ là đồng phạm giản đơn.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm, phù hợp với hành vi mà bị cáo gây ra để răn đe mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét vai trò, hành vi của từng bị cáo thì thấy: bị cáo D là người trực tiếp dùng gậy ba khúc là hung khí nguy hiểm đánh vào người của bị hại, bị cáo D nhiều lần bị cơ quan pháp luật xử lý, tuy đã được xóa án tích nhưng có nhân thân xấu nhưng không tu dưỡng, không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, hơn nữa trong giai đoạn điều tra bị cáo bị truy nã nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi cuộc sống cộng đồng một thời gian nhằm trừng trị, răn đe, giáo dục, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo D sau khi bị truy nã đã ra Cơ quan Công an đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét hành vi, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để lên một mức hình phạt tương xứng đối với bị cáo.
Bị cáo S cùng bị cáo D đánh bị hại gây thương tích. Quá trình điều tra, bị cáo S thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng mức hình phạt cho bị cáo được tự cải tạo, dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn T1 không có yêu cầu gì đối với bị cáo S. Đối với bị cáo D thì ông T1 yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 10.000.000đ, bị cáo D đồng ý bồi thường cho ông T1 số tiền 10.000.000đ. Do đó, buộc bị cáo D bồi thường cho ông T1 số tiền 10.000.000đ.
[5] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Riêng bị cáo D phải chịu thêm án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải bồi thường cho ông T1.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố các bị cáo Mai Thế D, Vũ Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Mai Thế D 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/02/2024.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn S 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
-
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Mai Thế D phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn T1 số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự .
-
Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Buộc bị cáo Vũ Văn S phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Buộc bị cáo Mai Thế D phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Giao bị cáo Vũ Văn S cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thanh Thủy |
Bản án số 165/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 165/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
