Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 165/2024/HNG§ - ST

Ngày: 25/4/2024.

V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – TP HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Liên.
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hành.
Bà Nguyễn Thị Hoa.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Từ Ngọc Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà: Bà Tô Thu Thuỷ - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình, thụ lý số: 579/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2023 về việc tranh chấp "Ly Hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:16/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thu T - sinh năm 1992.

Trú tại : Ngõ D, T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C - sinh năm 1987

Trú tại: Ngõ D, T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ngân hàng N1.

Địa chỉ: Số B, L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng N1: Ông Bùi Phương K – Giám đốc phòng G theo Quyết định uỷ quyền số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022 của Tổng Giám Đ và Giấy uỷ quyền ngày 14/3/2024 vủa Giám đốc A1 chi nhánh T2. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1

Trong đơn khởi kiện ngày 21/3/2023 và bản tự khai ngày 28/11/2023 nguyên đơn chị Nguyễn Thu T trình bày:

Chị T và anh C được tự do tìm hiểu và tự nguyện tổ chức lễ cưới. Đến ngày 16/3/2011 đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Sau khi cưới vợ chồng chị sống tại xã T, huyện T, Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do bất đồng quan điểm về mọi mặt trong cuộc sống, không hợp nhau. Từ năm 2022 chị và anh C mâu thuẫn căng thẳng, nên chị T và anh C đã ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài và xin được ly hôn với anh C.

Về con chung: Theo chị T khai chị và anh C có 02 con chung là Nguyễn Lê Hoàng A sinh ngày 29/9/2011 và Nguyễn Hoàng B sinh ngày 21/5/2020. Ly hôn chị T có nguyện vọng nuôi con Nguyễn Hoàng B và giao anh C nuôi cháu Nguyễn Lê Hoàng A không yêu cầu anh C đóng góp tiền nuôi con chung.

Hiện nay chị đang làm việc tại Tạp chí Điện tử mức thu nhập 20.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản và nhà ở: Chị T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về nhà ở và tài sản.

Nợ chung: Chị và anh C có một khoản nợ vay của ngân hàng N1, chị và anh C tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 28/11/2023 anh Nguyễn Văn C trình bày như sau:

Anh và chị T được tự do tìm hiểu, lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện K, tỉnh Hưng Yên vào ngày 10/3/2011. Sau khi tổ chức lễ cưới hai vợ chồng anh chị về chung sống tại xã T, T, Hà Nội. Theo anh cuộc sống chung hạnh phúc không có mâu thuẫn xảy ra, chị T bỏ nhà đi, không có trách nhiệm với con, có nhiều người đến đòi nợ. Nay chị T xin ly hôn, anh C xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Theo anh Nguyễn Văn C khai, anh và chị T có 02 con chung là Nguyễn Lê Hoàng A sinh ngày 29/9/2011 và Nguyễn Hoàng B sinh ngày 21/5/2020. Nay ly hôn anh C xin được nuôi 02 con chung, không yêu cầu chị T đóng góp tiền nuôi con.

Hiện nay anh làm công việc sửa chữa điện nước có thu nhập 30.000.000 đồng/ tháng.

2

Về tài sản chung, nhà ở: Vợ chồng anh C và chị T không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.

Về công nợ: Hai vợ chồng anh chị có nợ ngân hàng N1 số tiền là 300 triệu đồng, đã trả được 150 triệu đồng, còn nợ khoảng 150 triệu đồng, nay anh yêu cầu chị T phải có trách nhiệm trả phần nợ ngân hàng, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng N1.

Người đại diện ngân hàng: Ông Bùi Phương K có ý kiến: Ông C và bà T đã ký kết hợp đồng tín dụng số 3180-LAV-202200811 ký ngày 26/4/2022. Số tiền vay 300 triệu đồng mục đích vay để thanh toán tiền sửa chữa nhà ở và mua sắm vật dụng sinh hoạt trong gia đình. Tài sản thế chấp khoản vay là toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 722621 do Sở tài nguyên môi trường thành phố H cấp ngày 22/3/2022 số vào sổ cấp GCN: CS 16109 mang tên ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thu T.Tính đến ngày 15/3/2024 ông C và bà T đã trả ngân hàng số tiền 145.000.000đồng. Hiện nay ông C và bà T vẫn thực hiện việc trả nợ đầy đủ, do vậy ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thu T tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho ngân hàng, không yêu cầu giải quyết vay nợ trong vụ án này.

Tại phiên toà hôm nay:

Chị T vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn C vì chị và anh C đã sống ly thân từ giữa năm 2022 đến nay, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được.

Anh C xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn giữa anh và chị T không hàn gắn được, thực tế anh và chị T đã sống ly thân, tuy sống cùng một nhà nhưng không ai quan tâm đến ai. Tại phiên Toà anh C xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị T xin ly hôn, anh C nhất trí.

Về con chung: Chị T và anh C có 02 con chung cháu là Nguyễn Lê Hoàng A sinh ngày 29/9/2011, cháu Nguyễn Hoàng B sinh ngày 21/5/2020. Nay ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi cháu Nguyễn Lê Hoàng A và không yêu cầu anh C đóng góp tiền nuôi con.

Anh C có nguyện vọng được nuôi cháu Nguyễn Lê Hoàng A sinh ngày 29/9/2011, cháu Nguyễn Hoàng B sinh ngày 21/5/2022 và không yêu cầu chị T đóng góp tiền nuôi con.

Về tài sản chung nhà ở: chị T và anh C, không yêu cầu Toà án giải quyết về nhà ở và tài sản.

Về công nợ chị T và anh C tự giải quyết, không yêu cầu tòa án giải quyết.

3

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Xét thấy yêu cầu của chị T là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T1 xin ly hôn anh Nguyễn Văn C.

Về tình cảm: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thu T và anh Nguyễn Văn C.

Về con chung: Chị T và anh C có 02 con chung là cháu Nguyễn Lê Hoàng A sinh ngày 29/9/2011, cháu Nguyễn Hoàng B sinh ngày 21/5/2020. Do vậy giao con chung cháu Nguyễn Lê Hoàng A cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Nguyễn Hoàng B cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng để cháu phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Anh C và chị T được tạm hoãn việc đóng góp tiền nuôi con.

Về tài sản nhà ở: Chị T và anh C không yêu cầu tòa án giải quyết về nhà ở và tài sản.

Về án phí: chị Nguyễn Thu T phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ

VÒ quyÒn không c¸o: C¸c ®ư¯ng sù cã quyÒn kh¸ng co theo qui ®Þnh t'i §iÒu 271, 272 Bé luËt tè tông d©n sù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định: Chị Nguyễn Thu T và anh Nguyễn Văn C kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn năm 2011, tại Ủy Ban nhân dân Thị trấn K, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Như vậy hôn nhân của chị T và anh C là hợp pháp, tiến bộ. Sau khi kết hôn vợ chồng chị T và anh C đã sống tại T, huyện T, Hà Nội. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, đã ly thân từ đầu năm 2022 đến nay. Nay chị T làm đơn xin ly hôn với anh C, anh C đồng ý ly hôn. Tại phiên toà hôm nay chị T vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn với anh C. Xét thấy tình trạng hôn nhân của chị T, anh C không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nêu yêu cầu xin ly hôn của chị T là có cơ sở chấp nhận. Căn cứ vào Điều 55, Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Nguyễn Thu T được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.

Về con chung: Chị T và anh C có 02 con là cháu Nguyễn Lê Hoàng A sinh ngày 29/9/2011, cháu Nguyễn Hoàng B sinh ngày 21/5/2020. Xét nguyện vọng

4

nuôi con của chị T và anh C là chính đáng, là điều tự nhiên của người làm cha, làm mẹ.

Xét điều kiện nuôi con của chị T và anh C đều có việc làm, thu nhập ổn định, xét điều kiện nuôi con của hai anh chị như nhau. Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy, hiện tại cháu Nguyễn Hoàng B còn nhỏ, nên việc có người mẹ bên cạnh là hết sức cần thiết đồng thời cần có sự chăm sóc của người mẹ để hoàn thiện cả về thể chất lẫn tinh thần. Do đó xét thấy cần giao cháu Nguyễn Hoàng B cho chị Nguyễn Thu T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp thực tế và pháp luật. Cháu Nguyễn Lê Hoàng A có nguyện vọng được ở với mẹ. Tuy nhiên anh C có nguyện vọng được nuôi con chung, hơn nữa anh C có công việc làm và thu nhập ổn định, do đó giao cháu C1 Nguyễn Lê Hoàng A cho anh C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Hai bên chị T và anh C không phải đóng góp tiền nuôi con chung cho nhau. Hai bên có quyền quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.

Về tài sản chung, nhà ở và công nợ: Chị T và C không yêu cầu Toà án xem xét về nhà ở, công nợ và Ngân hàng N1 không yêu cầu giải quyết công nợ trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xét.

Ngân hàng N1 nếu có yêu cầu sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo qui định tại Điều 271, 272 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 55, Điều 59, Điều 69, 71, 72, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 2 Điều 29; khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Căn cứ khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Mục 1.1 khoản 1 Phần II Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án Ban hành kèm theo Nghị quyết 326/UBTVQH14;

Tuyên xử:

1- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thu T và anh Nguyễn Văn C.

2 - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Lê Hoàng A sinh ngày 29/9/2011 cho anh Nguyễn Văn C trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục. Giao cháu Nguyễn Hoàng B sinh ngày 21/5/2020 cho chị Nguyễn Thu T trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục. Hai bên không phải đóng góp tiền nuôi con chung cho nhau.

5

Chị T và anh C có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.

3 - Về tài sản chung, nhà ở: Chị Nguyễn Thu T và anh Nguyễn Văn C, không đề nghị Toà án xem xét xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.

4 - Về Công nợ: Anh chị và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

5 - Về án phí: Chị Nguyễn Thu T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000đồng tạm ứng án phí chị N đã nộp theo biên lai số 0006815 ngày 22/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì. Chị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

6 - Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thu T, anh Nguyễn Văn C, Ngân hàng N1 có quyền kháng cáo bản án ly hôn sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội ;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - Chi cục THADS H.Thanh Trì ;
  • - UBND thị trấn Khoái Châu. Khoái Châu, Hưng Yên (giấy CNKH số 26-2011; QS: 01 ngày 16/3/2011);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Liên

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 165/2024/HNG§ - ST ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 165/2024/HNG§ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hôn nhân gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger