Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 165/2023/HS-ST

Ngày 27 tháng 12 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hiểu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hạnh

Ông Phạm Tiến Lợi

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đắc Hùng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Ánh, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 144/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Bùi Ngọc T

sinh năm: 1995; Nơi cư trú: thôn Q, xã Đ, huyện C, TP .; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Bùi Ngọc T1 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1966; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: chưa có. Có mặt.

Bị can bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/7/2023 đến nay. Hiện bị can đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 2, Công an thành phố H.

Người bào chữa cho bị cáo Bùi Ngọc T Luật sư Nguyễn Văn C Công ty Luật TNHH một thành viên T.H đoàn Luật sư thành phố H

Bị hại: Anh Nguyễn Văn G, sinh 1990;

Trú tại: thôn T, xã Đ, huyện C, TP .. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Ngọc T, sinh năm 1995, trú tại: thôn Q, xã Đ, huyện C, TP . và Nguyễn Văn G, sinh năm 1990, trú tại: thôn T, xã Đ, huyện C, TP ., có mối quan hệ bạn bè. Từ cuối năm 2022 đến đầu năm 2023 T có cho G vay nhiều lần với tổng số tiền là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), nhiều lần T đòi nợ, nhưng G chỉ hứa trả chứ không trả nợ.

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 03/7/2023, T tiếp tục gọi điện cho G để đòi tiền, nhưng G tắt máy, không nghe điện thoại. Bực tức vì gọi điện thoại G tắt máy, không đòi được tiền nợ, nên T lấy 01 con dao bầu dài 35cm, chuôi gỗ, mũi nhọn tại bếp của gia đình mình giấu trong người và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS: 16M5-8614 của mình đi đến nhà anh G đòi nợ. Đến nơi, T nhìn thấy trong nhà G có 03 người ở nhà gồm: Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1971 (mẹ đẻ G), các con trai anh G, cháu Nguyễn Khánh D, sinh ngày 07/4/2014 và cháu Nguyễn Hải S, sinh ngày 08/8/2016 đang ngồi trước cửa nhà. T nảy sinh ý định chụp ảnh quay video cảnh uy hiếp khống chế con của anh G để buộc G phải trả nợ. T bảo cháu D và S “lên phòng của bố mẹ lấy chiếc đồng hồ cho bố để quên ở nhà”, do biết T là bạn G nhiều lần đến nhà chơi với gia đình anh G, nên cháu D và cháu S nghe lời. Cháu S lên trước tìm đồng hồ, cháu D đi lên sau. Thấy 02 cháu đi lên tầng 3, T đi lên theo, khi bước lên đến sàn nghỉ tầng 2 thì gặp cháu D và S từ tầng 3 đi xuống. Tuyển rút trong người ra con dao bầu cầm bằng tay phải, còn tay trái tóm tay cháu D kéo lên phòng ngủ tầng 3, T bảo cháu D đứng im trong phòng, còn T giơ dao bầu lên, rồi dùng điện thoại di động của mình chụp ảnh hình cháu D và con dao bầu, sau đó T gửi hình ảnh qua mạng xã hội “zalo” cho anh G và chị Đỗ Thị T4 (vợ G) biết con trai đang bị khống chế, nguy hiểm có thể gây ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng, để phải trả tiền vay nợ cho T. Lúc này anh G đang điều khiển xe ô tô đi Thái Nguyên chở hàng và chị T4 đang đi làm ở Công ty M, thì nhận được tin nhắn kèm hình ảnh của T vừa gửi, quá hoảng sợ và lo lắng cho sức khoẻ của con trai mình, nên anh G đã chủ động nhắn tin, gọi điện cho T đề nghị không được xâm hại đến cháu D và hứa đi gom tiền trả nợ cho T.

Sau khi nhận tin nhắn anh G gửi lại, T mở cửa bước ra ngồi ở hành lang trước cửa phòng ngủ của vợ chồng anh G để chờ G về trả tiền. Lúc này ở trong nhà dưới tầng 1, cháu S chạy ra nói với bà T3 biết sự việc T cầm dao, bà T3 biết sự việc T cầm dao dọa cháu D ở tầng 3, gọi ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1967 (bố đẻ anh G) ông B, bà T3 lo sợ không dám lên tầng 3 mà chỉ đứng tầng 2 nói với lên tầng 3 để khuyên nhủ T xuống nhà nói chuyện, không gây hại cho cháu D, nhưng T đề nghị gọi anh G về trả tiền, khi ông B nói sẽ báo công an thì T thách thức việc trình báo. Ông B gọi điện nhờ anh Trần Đăng H, sinh năm 1987, tại thôn T, xã Đ đến khuyên ngăn T. Khi anh H đến thấy T đang cầm dao ngồi ở cầu thang, do quen biết từ trước nên anh H đến khuyên nhủ thì T đồng ý đi xuống và vứt con dao tại ô thoáng tầng 2. Khi T đi xuống tầng 1 bị lực lượng Công an khống chế, lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.

* Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) dao bầu dài 35cm, chuôi gỗ, lưỡi bằng kim loại, mũi nhọn.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax vỏ màu trắng, kèm theo sim số 0988409193, cũ đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105, vỏ màu xanh nước biển, kèm theo sim số 0988642958, cũ đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SCR110, màu bạc, số máy: WH150MH-07R-03448, số khung: LWBTDH10371004326, BKS: 16M5-8614.

Ngày 17/8/2023, Cơ quan điều tra tiến hành rà soát, sao lưu thu giữ 02 (hai) đoạn videos, trong đó có:

  • + 01 đoạn video ghi lại diễn biến bị can Bùi Ngọc T điều khiển xe mô tô đến nhà ông Nguyễn Văn B và đi vào trong nhà.
  • + 01 đoạn video ghi lại việc bị can Bùi Ngọc T ra khỏi nhà ông B và bị lực lượng Công an bắt giữ.

Ngày 18/8/2023, Cơ quan CSĐT - Công an huyện C đã Quyết định trưng cầu giám định Phòng K - Công an thành phố H, nhưng Phòng K có công văn phúc đáp từ chối giám định do đơn vị không đáp ứng được yêu cầu giám định (lưu giữ trong hồ sơ vụ án), nên không Cơ quan điều tra lưu giữ chuyển theo hồ sơ vụ án.

Cơ quan CSĐT - Công an huyện C đã xác minh chủ sở hữu phương tiện xe mô tô BKS: 16M6-8614 đăng ký xe mang tên Phạm Thị Y (SN 1962, tại phường D, quận L, Hải Phòng). Bà Y xác nhận có đăng ký chính chủ chiếc xe trên nhưng sau đó đã bán chiếc xe mô tô trên từ lâu, không nhớ rõ bán cho ai, ở đâu, bà Y không bị mất trộm. Do vậy, xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của Bùi Ngọc T.

* Về trách nhiệm dân sự:

Bùi Ngọc T đe dọa cháu Nguyễn Khánh D, nhưng không gây thương tích gì cho cháu D. Đại diện gia đình cháu D là anh Nguyễn Văn G không yêu cầu T phải bồi thường thiệt hại. Do vậy, CQĐT không đề cập xử lý.

Tại bản Cáo trạng số: 146/CT-VKS-CM ngày 06/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ đã truy tố bị cáo Bùi Ngọc T, ra trước Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ để xét xử về tội Cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 170 BLHS.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Bùi Ngọc T, đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cũng như khai nhận các vật chứng bị thu giữ trong quá trình điều tra như trên. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được trở về lao động hòa nhập xã hội.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong các lời khai tại cơ quan điều tra đều đã xác nhận có nợ Bùi Ngọc T 300.000.000 đồng, T nhiều lần đòi nhưng anh G chưa có điều kiện trả nên khất lần nhiều lần và có ý kiến không yêu cầu T phải bồi thường thiệt hại, đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Người bào chữa cho các bị cáo là ông Luật sư Nguyễn Văn C trình bày: Đối với hành vi của bị cáo thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản của anh Nguyễn Văn G là vi phạm quyền tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ. Bản Cáo trạng và Luận tội của đại diện Viện kiểm sát huyện C là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Người bào chữa cũng có ý kiến về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện T và G là bạn thân, T để dao cách xa cháu D, hành dộng của T không quyết liệt chưa đủ đè bẹp ý chí của người bị hại, hành vi của bị cáo nguy hiểm không đáng kể cho xã hội nên cần áp dụng khoản 2 Điều 8 BLHS không phải là tội phạm hoặc áp dụng Điều 29 BLHS miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Người bào chữa cũng đề nghị không áp dụng tình tiết tăng nặng tại điểm i khoản 1 Điều 52 BLHS đối với bị cáo vì bị cáo dùng cháu D chỉ như công cụ để phạm tội nên không coi là phạm tội với người dưới 16 tuổi.

Tuy nhiên, Người bào chữa cũng có ý kiến nếu phải truy tố, xét xử đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình; tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo không nghiêm trọng, bị cáo bị cáo chỉ nhằm mục đích đe dọa không có ý định gây hại đến cháu D, không có hình động quyết liệt; bị cáo thực hiện hành vi nhưng chưa gây ra thiệt hại về quyền nhân thân cũng như quyền tài sản; người bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn. Bị cáo hành động mang tính bồng bột, thiếu suy nghĩ, thiếu hiểu biết pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự áp dụng hình phạt thấp nhất theo quy định của pháp luật đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa tranh luận xác định: bị cáo sử dụng dao bầu dài 35cm uy hiếp, dùng cháu D làm công cụ để đe dọa, uy hiếp tinh thần anh G buộc anh G phải gọi điện lại cho T hứa trả tiền. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Bùi Ngọc T đủ yếu tố cấu thành tội Cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại theo điểm a khoản 3 Điều 170 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng theo điểm a khoản 3 Điều 170, điểm i, khoản 1 Điều 52, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt Bùi Ngọc T từ 7 năm đến 8 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

Về vật chứng của vụ án đề nghị: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax vỏ màu trắng, kèm theo sim số 0988409193, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105, vỏ màu xanh nước biển, kèm theo sim số 0988642958, cũ đã qua sử dụng;

Trả lại cho bị cáo 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SCR110, màu bạc, số máy: WH150MH-07R-03448, số khung: LWBTDH10371004326, BKS: 16M6-8614.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) dao bầu dài 35cm, chuôi gỗ, lưỡi bằng kim loại, mũi nhọn.

Về dân sự: Do bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên không giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Ngọc T nhận thấy:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Bùi Ngọc T và Nguyễn Văn G có mối quan hệ bạn bè từ năm 2019. Từ cuối năm 2022 đến đầu năm 2023 T có cho G vay tiền nhiều lần tổng số tiền là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng). Nhiều lần T đòi nợ, nhưng G chưa trả nợ. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 03/7/2023, T gọi điện cho G để đòi tiền, nhưng G tắt máy, không nghe điện thoại. Bực tức vì không đòi được nợ, nên T lấy 01 con dao bầu dài 35cm, chuôi gỗ, mũi nhọn tại bếp của gia đình mình giấu trong người và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS: 16M5-8614 của mình đi đến nhà anh G. Đến nơi, T nhìn thấy mẹ đẻ và các con của G đang ngồi trước cửa nhà, nên T nảy sinh ý định chụp ảnh, quay video cảnh uy hiếp khống chế con của anh G để buộc G phải trả nợ. T bảo cháu D và S “lên phòng của bố mẹ lấy chiếc đồng hồ cho bố để quên ở nhà”. T đi lên theo 02 cháu đi lên tầng 3, khi gặp cháu D và S từ tầng 3 đi xuống, T liền rút trong người ra con dao bầu cầm bằng tay phải, còn tay trái tóm tay cháu D kéo lên phòng ngủ tầng 3, T bảo cháu D đứng im trong phòng, còn T đứng cách cháu D 2m giơ dao bầu lên, rồi dùng điện thoại di động của mình chụp ảnh hình cháu D và hình ảnh phần thân, đầu mũi con dao bầu. Tuyển gửi hình ảnh qua mạng xã hội “zalo” cho anh G và chị Đỗ Thị T4 (vợ G) biết con trai đang bị khống chế, để phải trả tiền vay nợ cho T. Khi nhận được tin nhắn kèm hình ảnh của T vừa gửi, hoảng sợ và lo lắng cho sức khoẻ của con trai mình, nên anh G đã chủ động nhắn tin, gọi điện cho T đề nghị không được xâm hại đến cháu D và hứa gom tiền trả nợ cho T.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định bị cáo Bùi Ngọc T vì không đòi được tiền nợ, đã thực hiện hành vi sử dụng thủ đoạn nguy hiểm là dùng hình ảnh cảnh đe dọa con anh G và gửi hình ảnh qua mạng xã hội zalo cho anh G, chị T4 nhằm mục đích để uy hiếp tinh thần tác động tâm lý của người bị hại, làm người bị hại lo sợ, bất an buộc bị hại phải tìm cách trả nợ số tiền vay là 300.000.000 đồng. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo phạm vào tội Cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố bị cáo Bùi Ngọc T về tội danh trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đối với hành vi của Bùi Ngọc T khống chế, kéo cháu Nguyễn Khánh D, đưa cháu D từ cầu thang tầng 2 lên tầng 3 vào trong phòng đóng cửa lại để chụp ảnh con dao bầu với cháu D để uy hiếp tinh thần nhằm buộc anh G về trả nợ. Quá trình bị T khống chế, cháu D vẫn được đi tự do đi lại trong phòng, không bị trói chân, tay. Thời gian diễn ra nhanh, địa điểm bị giữ tại nhà ở của cháu D cùng ông bà, bố mẹ thường xuyên sinh sống nên không có dấu hiệu của tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại Điều 157 BLHS. Do vậy, CQĐT không đề cập xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với việc anh Nguyễn Văn G nợ tiền Bùi Ngọc T với tổng số tiền 300.000.000 đồng, bản thân anh G không bỏ trốn, do chưa có tiền nên chưa trả được số nợ trên, cả hai bên thống nhất thoả thuận vay nợ bằng miệng nên đây chỉ là giao dịch dân sự sự không có dấu hiệu của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” hay “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 174, 175 BLHS. Do vậy, CQĐT không đề cập xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản với giá trị tài sảm nhằm chiếm đoạt lớn, xâm phạm quyền nhân thân của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ nên cần có hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh trở thành công dân có ích cho xã hội, đảm bảo việc giáo dục riêng và phòng ngừa chung,

Bùi Ngọc T đã khống chế, kéo cháu Nguyễn Khánh D, đưa cháu D vào trong phòng để chụp ảnh cháu D với con dao bầu để uy hiếp tinh thần nhằm buộc anh G về trả nợ. Quá trình bị T khống chế cháu không bị trói chân, tay, cháu D cũng xác nhận T nói “chú không làm gì đâu”, D vẫn được tự do đi lại trong phòng, không gây tâm lý hoảng loạn đối với cháu D, thời gian diễn ra nhanh, địa điểm bị giữ tại nhà ở của cháu D cùng ông bà, bố mẹ thường xuyên sinh sống. Hành vi của T không có tính chất quyết liệt, dùng hình ảnh cháu D với con dao như một công cụ uy hiếp tinh thần người bị hại, không cấu thành tội phạm khác nên không áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội với người dưới 16 tuổi đối với bị cáo.

Về nhân thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình; tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo không nghiêm trọng, bị cáo bị cáo chỉ nhằm mục đích đe dọa không có ý định gây hại đến cháu D, không có hình động quyết liệt; bị cáo thực hiện hành vi nhưng chưa gây ra thiệt hại quyền tài sản, gây hại không đáng kể về quyền nhân thân; người bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4].Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (Một) chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone XS Max vỏ màu trắng, kèm theo sim số 0988.409193 là điện thoại của T sử dụng để chụp ảnh con dao và cháu D, gửi qua dịch vụ Z cho anh G và 01 (Một) chiếc ĐTDĐ nhãn hiệu NOKIA 105, vỏ màu xanh nước biển, kèm theo sim số 0988.642958. T sử dụng điện thoại để liên lạc, đe dọa anh G nhằm mục đích đòi nợ tiền, là công cụ, phương tiện liên quan đến tội phạm nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 (một) con dao bầu dài 35cm, chuôi gỗ, lưỡi bằng kim loại, mũi nhọn mà T sử dụng để khống chế, đe dọa cháu D và anh G là công cụ liên quan đến tội phạm nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) chiếc chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SCR110, màu bạc, số máy: WH150MH-07R-03448, số khung: LWBTDH10371004326, BKS: 16M6-8614. Cơ quan CSĐT - Công an huyện C đã xác minh chủ sở hữu phương tiện xe mô tô BKS: 16M6-8614 đăng ký xe mang tên Phạm Thị Y (SN 1962, tại phường D, quận L, Hải Phòng). Bà Y xác nhận có đăng ký chính chủ chiếc xe trên nhưng sau đó đã bán chiếc xe mô tô trên từ lâu, không nhớ rõ bán cho ai, ở đâu, bà Y không bị mất trộm. Do vậy, xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của Bùi Ngọc T. T sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện đi lại, không trực tiếp được sử dụng trong hành vi cưỡng đoạt tài sản nên trả lại cho bị cáo.

[6]. Về dân sự: Do bị hại không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc T phạm tội: Cưỡng đoạt tài sản.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 170, Điều 38, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt Bùi Ngọc T 06 (Sáu) năm 06 (S1) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/7/2023.

2. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) dao bầu dài 35cm, chuôi gỗ, lưỡi bằng kim loại, mũi nhọn, đã qua sử dụng;

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax vỏ màu trắng, cũ đã qua sử dụng, số IMEI 357272092018443; không kiểm tra tình trạng chất lượng bên trong máy; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105, vỏ màu xanh nước biển, cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng chất lượng bên trong máy;

Trả lại cho bị cáo Bùi Ngọc T 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda SCR110, màu bạc, BKS 16M6-8614, số máy WH150MH-07R-03448, số khung LWBTDH10371004326, không kiểm tra tình trạng chất lượng máy bên trong.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Bùi Ngọc T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo Bùi Ngọc T, người bào chữa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Hạnh Phạm Tiến Lợi Nguyễn Quang Hiểu

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân TP Hà Nội;
  • - VKS ND huyện Chương Mỹ;
  • - Công an huyện Chương Mỹ;
  • - THA Dân sự huyện Chương Mỹ;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 165/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm về tội cưỡng đoạt tài sản

  • Số bản án: 165/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cưỡng đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger