Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN LỘC

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 165/2024/HS- ST

Ngày: 27/8/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Phượng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Kim Tân.

2. Bà Đỗ Thị Thu Hà.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Xuân lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 169/2024/HSST ngày 16 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173 /2024/QĐXXST-HS ngày 19/8/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Trung H; Tên gọi khác: Không.

Giới tính: Nam; Sinh ngày 07 tháng 10 năm 1995 tại Đồng Nai.

Nơi cư trú: tổ C, khu phố A, Thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Công nhân.

Họ và tên cha: Lê Văn T, sinh năm 1972.

Họ và tên mẹ: Bùi Thị T1, sinh năm 1974.

Hiện cha mẹ đang sinh sống tại khu phố A, Thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

Anh, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.

Vợ, con: Chưa.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 13/9/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, về tội “Trộm cắp tài sản”, tại Bản án số 118/2014/HSST. Đã chấp hành xong nên được coi là không có tiền án theo điểm b Điều 107 Bộ luật hình sự.

- Ngày 18/11/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xử phạt 14 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 169/2020/HS- ST. Ngày 24/8/2021, chấp hành xong hình phạt tù và đã nộp án phí hình sự sơ thẩm. Hiện đã được xóa án tích.

Bị cáo Lê Trung H đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện X từ ngày 06/3/2024 cho đến nay, chờ xét xử.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Bà Phạm Thị M, sinh năm 1983.

Hiện đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai.

- Ông Trần Văn S, sinh năm 1997

Bà M, ông S hiện đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai.

- Ông Hồ Văn C, sinh năm 1994.

- Bà Nguyễn Thị Mộng C1, sinh năm 1976.

- Bà Vũ Thị Ngọc Á, sinh năm 1967.

Cùng địa chỉ: ấp F, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

- Ông Lê Thanh H1, sinh năm 2002.

Địa chỉ: khu phố A, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

* Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Xuân Nhật T2, sinh năm 2001.

Địa chỉ: ấp E, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

- Ông Đào Minh T3, sinh năm 1989.

Địa chỉ: ấp F, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Trung H là người nghiện ma tuý loại ma tuý tổng hợp (Methamphetamine). Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 06/3/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nhưng không có tiền để mua ma túy, Lê Trung H đã nhờ một người tên P (là bạn bè quen biết ngoài xã hội của H) trước đây có mượn H số tiền là 650.000 đồng (Sáu trăm năm mươi nghìn đồng) nên H gọi điện cho P qua ứng dụng zalo và nói: “Em chạy lên chị M, đưa cho chị M 500.000 đồng giúp anh” và P trả lời “chút nữa em chạy lên”. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày thì H mượn điện thoại của P1 (là bạn làm cùng công ty) và gọi vào số điện thoại 0866.498.xxx của một người phụ nữ tên M và nói: “Lấy cho em năm trăm đồ” (H khai có nghĩa là hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá từ M). Người tên M hỏi lại H “tiền mặt hay chuyển khoản”, thì H nói “nãy có P lên đưa tiền rồi mà”, thì người tên M nói lại với H “để dưới bàn, chỗ đống vỏ chai” nên H hiểu là ma túy được Mây để dưới bàn gần phòng trọ của M đang ở. Đến khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày, khi H tan ca làm và đi ra cổng thì gặp Trần Văn S (là bạn bè ngoài xã hội của H) đang đứng đón trước cổng. Sau đó, H nói với S “qua phòng chị M một xíu” đồng thời H trực tiếp điều khiển xe mô tô biển số 60H5-456.61 chở S ngồi phía sau đi đến phòng trọ của M ở ấp F, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Khi gần đến phòng trọ của M thì S đứng ở ngoài, H đi vào phòng trọ của M thì thấy phòng đóng cửa nên H quay ra và đi lại vị trí bàn nhựa gần phòng trọ mà trước đó M chỉ dẫn. Vị trí này cách cửa phòng trọ của M ở khoảng 4 đến 5 mét. H ngồi xuống tìm nhặt gói nylon chứa ma túy đá lên và cất trong túi quần bên trái H đang mặc. Sau đó, H cùng S ngồi xuống tại vị trí bàn nhựa bấm điện thoại, ngay lúc này có lực lượng Công an đến kiểm tra thì H liền vứt gói ma túy, có khối lượng 1,270gam, loại Methamphetamine, trong túi quần xuống ngay vị trí H đang ngồi, nhưng đã bị phát hiện và bắt quả tang và thu giữ, niêm phong tang vật theo quy định. Tiến hành xét nghiệm chất ma tuý đối với Lê Trung H, kết quả H dương tính với chất ma tuý, loại Methamphetamine.

* Tại kết luận giám định số 489/KL-KTHS ngày 14/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận:

+ Mẫu tinh thể màu trắng (mẫu M) được niêm phong gửi đến giám định là Ma túy, có khối lượng: 1,270gam (một phẩy hai bảy không gam), loại: Methamphetamine.

+ Mẫu tinh thể màu trắng (mẫu M11) được niêm phong gửi đến giám định có khối lượng: 7,038gam (bảy phẩy không ba tám gam), loại: D-Sucrose.

+ Mẫu tinh thể màu trắng (mẫu M12) được niêm phong gửi đến giám định có khối lượng: 18,981gam (Mười tám phẩy chính tám một gam), loại: D-Sucrose.

D-Sucrose không thuộc danh mục quy định tại Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

* Vật chứng vụ án và xử lý vật chứng:

- 01 (một) gói nylon dạng túi zip, kích thước (04 x 7,5)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, thu giữ của Lê Trung H. Được niêm phong, ký hiệu M.

- 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 60H5-456.61. Qua điều tra xác định xe mô tô biển kiểm soát 60H5-456.61 thuộc sở hữu của ông Lê Thanh H1, sinh năm 2002, địa chỉ: khu phố A, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Ông H1 không liên quan đến hành vi phạm tội của Lê Trung H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả phương tiện cho ông Lê Thanh H1.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, thu giữ của Lê Trung H. Qua điều tra xác định điện thoại này là thuộc sở hữu của H, vào ngày 06/03/2024, H sử dụng chiếc điện thoại này để gọi cho một người tên P nhờ đưa số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) cho M với mục đích để trả tiền mua ma tuý trước.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen và 01 (một) điện thoại Nokia 105 thu giữ của Trần Văn S. Qua điều tra xác định thuộc sở hữu của Trần Văn S. Qua kiểm tra điện thoại, chưa phát hiện có nội dung liên quan đến hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của H. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp là Trần Văn S.

- 02 (hai) gói nylon hàn kín, kích thước (5 x 8)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, Công an thu giữ khi khám xét phòng trọ của Phạm Thị M. Được niêm phong, ký hiệu M1 (bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng, ký hiệu mẫu M11; 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng, ký hiệu mẫu M12).

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo gắn sim số 0899.492.443 và 01 (một) điện thoại di động hiệu SamSung, màu đen, gắn sim số 0866.498.083. Qua điều tra xác định điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, gắn sim số: 0899.492.443 và sim số 0866.498.083 là thuộc sở hữu của Phạm Thị M. Qua kiểm tra điện thoại và giám định tại C - Bộ C2, chưa phát hiện có nội dung liên quan đến hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của Lê Trung H. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho Phạm Thị M.

Điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, màu đen là thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Mộng C1, sinh năm 1976, trú tại ấp F, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Qua làm việc, bà C1 khai nhận vào ngày 05/03/2023, Phạm Thị M là người ở trọ cùng dãy trọ với bà C1 có hỏi mượn điện thoại của bà C1 để sử dụng. Sau khi mượn điện thoại, M đã thay đổi mật khẩu điện thoại nên bà C1 không biết mật khẩu và qua làm việc Mây không cung cấp mật khẩu điện thoại. Đồng thời, kết quả giám định của C09B – Bộ C2 kết luận do không có mật khẩu điện thoại nên không trích xuất dữ liệu trong điện thoại. Do đó, chưa có căn cứ xác định chiếc điện thoại trên có liên quan đến vụ án và bà C1 hoàn toàn không biết, không giúp sức cho H thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị Mộng C1.

- 15 (mười lăm) vỏ gói nylon, kích thước (6 x 9)cm; 01 (một) kéo kim loại; 01 (một) nỏ thuỷ tinh. Qua điều tra xác định những vật dụng này là của Phạm Thị M không liên quan đến hành vi phạm tội của H, do vật dụng không có giá trị nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

+ Số tiền 55.000 đồng (Năm mươi lăm nghìn đồng). Qua điều tra xác định số tiền này là thuộc sở hữu của Phạm Thị M, không liên quan đến hành vi phạm tội của H. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho Phạm Thị M.

Tại bản Cáo trạng số: 173/CT-VKS ngày 15/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc đã truy tố bị cáo Lê Trung H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc giữ nguyên bản Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên và đề nghị:

+ Tình tiết tăng nặng: Không.

+ Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự).

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Lê Trung H mức án từ: 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Không.

* Quá trình điều tra, Lê Trung H và đối tượng Hồ Văn C, sinh năm 1994, nơi ở hiện tại: ấp F, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai (là người nghiện ma túy) khai nhận có mua ma túy của Phạm Thị M. Qua đấu tranh thì M không thừa nhận hành vi đã bán ma tuý cho Lê Trung HHồ Văn C. Tiến hành kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, màu đen, gắn sim số 0866.498.083 của M thì M không nhớ mật khẩu điện thoại, do đó không thể kiểm tra điện thoại. Tiến hành kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, gắn sim số 0899.492.443 của M, kết quả: Chưa phát hiện có dữ liệu liên quan đến việc mua bán ma túy giữa Mây với bị can H và C. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành niêm phong điện thoại của M. Đối với 02 (hai) gói nylon hàn kín, kích thước (5 x 8)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, thu giữ của M có kết quả giám định không phải là ma túy. Do đó, chưa có đủ căn cứ xác định hành vi của Phạm Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” được quy định tại Điều 251 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, tiến hành xét nghiệm chất ma tuý đối với M, kết quả Mây dương tính với chất ma tuý, loại Methamphetamine nên Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với M là phù hợp.

* Đối với Trần Văn S: Vào ngày 06/03/2024, S được H nhờ đến chỗ làm của H để chở về, S không góp tiền, thỏa thuận, bàn bạc với H để cùng mua ma tuý và H không nói cho S biết là đi đến chỗ M ở để mua ma tuý. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X không đưa ra hình thức xử lý đối với Trần Văn S. Tuy nhiên, tiến hành xét nghiệm chất ma tuý đối với S, kết quả Sơn dương tính với chất ma tuý, loại Methamphetamine nên Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với S là phù hợp.

* Đối với Hồ Văn C: Vào ngày 04/03/2024, C khai có mua ma túy của M với số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) và đã sử dụng một mình hết. Chức hoàn toàn không biết và không tham gia giúp sức với H trong việc mua, tàng trữ ma túy vào ngày 06/03/2024. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X không đưa ra hình thức xử lý đối với C là phù hợp.

* Đối với người tên P: H khai là người đã trả tiền mua ma tuý cho người tên M trước và H đến lấy ma tuý sau. Quá trình điều tra, xác minh chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người có tên P. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X sẽ tiếp tục xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để xử lý theo quy định pháp luật.

* Đối với người tên P1: H khai là người cho H mượn điện thoại để gọi hỏi mua ma tuý của Mây. Quá trình điều tra, xác minh chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người có tên P1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X sẽ tiếp tục xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để xử lý theo quy định pháp luật.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc tuyên tịch thu tiêu hủy:

- Tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án:

  • + 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu số 489/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Đ, niêm phong ngày 14/3/2024;
  • + 15 (mười lăm) vỏ gói nylon, kích thước (6 x 9)cm; 01 (một) kéo kim loại; 01 (một) nỏ thuỷ tinh;

- Tịch thu sung công: 01 (một) điện thoại di động cảm ứng hiệu Iphone 11, màu đen.

- Lưu hồ sơ vụ án: 01 (một) đĩa DVD có ký hiệu “RISHENG DVD-R 16x" kèm theo Kết luận giám định số 1955/KL-KTHS ngày 07/06/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh. Được niêm phong trong 01 (một) phong bì có chữ ký ghi họ tên Phạm Thị M, Nguyễn Thị Nhất T4 và hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã S;

Bị cáo Lê Trung H nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

Xét thấy tại phiên tòa bị cáo Lê Trung H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung bản Cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 06/3/2024, tại dãy phòng trọ của bà Vũ Thị Ngọc Á thuộc ấp F, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Lực lượng Công an đã phát hiện bắt quả tang Lê Trung H đã bỏ một vật nghi là ma túy ra khỏi người xuống ngay vị trí đang ngồi. Kiểm tra tại chỗ H ngồi, Cơ quan Công an phát hiện 01 (một) gói nilon dạng túi zip, kích thước (4 x 7,5) cm, bên trong có các hạt tinh thể màu trắng, H khai là ma túy đá của H vừa mua được của người phụ nữ tên M ở trong dãy phòng trọ, mục đích tàng trữ để sử dụng. Kết quả giám định: Mẫu tinh thể màu trắng (mẫu M) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 1,270gam (Một phẩy hai bảy không gam), loại: Methamphetamine.

Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lê Trung H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

[3] Bị cáo Lê Trung H là đối tượng nghiện ma túy tổng hợp là Methamphetamine, có nhân thân xấu.

Hành vi của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến việc quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn trật tự tại địa phương.Việc tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy là nguyên nhân dẫn đến những thiệt hại về tài sản, là nguồn lây lan nhiều căn bệnh nguy hiểm, là nguyên nhân gia tăng các loại tội phạm về hình sự. Do đó, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng một thời gian để bị cáo tu dưỡng, rèn luyện bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

* Đối với Phạm Thị M chưa có đủ căn cứ xác định hành vi của Phạm Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” được quy định tại Điều 251 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, tiến hành xét nghiệm chất ma tuý đối với M, kết quả Mây dương tính với chất ma tuý, loại Methamphetamine nên Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với M là phù hợp.

* Đối với Trần Văn S: Vào ngày 06/03/2024, S được H nhờ đến chỗ làm của H để chở về, S không góp tiền, thỏa thuận, bàn bạc với H để cùng mua ma tuý và H không nói cho S biết là đi đến chỗ M ở để mua ma tuý. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X không đưa ra hình thức xử lý đối với Trần Văn S. Tuy nhiên, tiến hành xét nghiệm chất ma tuý đối với S, kết quả Sơn dương tính với chất ma tuý, loại Methamphetamine nên Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với S là phù hợp.

* Đối với Hồ Văn C: Vào ngày 04/03/2024, C khai có mua ma túy của M với số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) và đã sử dụng một mình hết. Chức hoàn toàn không biết và không tham gia giúp sức với H trong việc mua, tàng trữ ma túy vào ngày 06/03/2024. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X không đưa ra hình thức xử lý đối với C là phù hợp.

* Đối với người tên P: H khai là người đã trả tiền mua ma tuý cho người tên M trước và H đến lấy ma tuý sau. Quá trình điều tra, xác minh chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người có tên P. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X sẽ tiếp tục xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để xử lý theo quy định pháp luật.

* Đối với người tên P1: H khai là người cho H mượn điện thoại để gọi hỏi mua ma tuý của Mây. Quá trình điều tra, xác minh chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người có tên P1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X sẽ tiếp tục xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để xử lý theo quy định pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[5] Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo Lê Trung H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Không.

[7] Về vật chứng vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án:

  • + 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu số 489/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Đ, niêm phong ngày 14/3/2024;
  • + 15 (mười lăm) vỏ gói nylon, kích thước (6 x 9)cm; 01 (một) kéo kim loại; 01 (một) nỏ thuỷ tinh;

- Tịch thu sung công: 01 (một) điện thoại di động cảm ứng hiệu Iphone 11, màu đen.

- Lưu hồ sơ vụ án: 01 (một) đĩa DVD có ký hiệu “RISHENG DVD-R 16x" kèm theo Kết luận giám định số 1955/KL-KTHS ngày 07/06/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh. Được niêm phong trong 01 (một) phong bì có chữ ký ghi họ tên Phạm Thị M, Nguyễn Thị Nhất T4 và hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã S;

[8] Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo Lê Trung H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên bố: Bị cáo Lê Trung H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy

* Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Trung H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ, tạm giam ngày 06/3/2024.

* Về vật chứng vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án:

  • + 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu số 489/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Đ, niêm phong ngày 14/3/2024;
  • + 15 (mười lăm) vỏ gói nylon, kích thước (6 x 9)cm; 01 (một) kéo kim loại; 01 (một) nỏ thuỷ tinh;

- Tịch thu sung công: 01 (một) điện thoại di động cảm ứng hiệu Iphone 11, màu đen.

- Lưu hồ sơ vụ án: 01 (một) đĩa DVD có ký hiệu “RISHENG DVD-R 16x" kèm theo Kết luận giám định số 1955/KL-KTHS ngày 07/06/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh. Được niêm phong trong 01 (một) phong bì có chữ ký ghi họ tên Phạm Thị M, Nguyễn Thị Nhất T4 và hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã S;

Vật chứng hiện đang tạm giữ tại của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

*Về án phí: Buộc bị cáo Lê Trung H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai.
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Xuân Lộc;
  • - Công an huyện Xuân Lộc;
  • - CCTHADS huyện Xuân Lộc;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS; THA; AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Kim Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 165/2024/HS- ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 165/2024/HS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Trung Hiếu - tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger