|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 165/2024/HS-ST Ngày: 24 - 7 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Hồng Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hồng.
- Bà Chu Thị Tuyết.
Thư ký phiên toà: Ông Đặng Thanh Tùng - Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Xuân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Hương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24/7/2024, tại Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 138/2024/TLST-HS ngày 21/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2024/QĐXXST-HS ngày 10/7/2024 đối với các bị cáo:
1. Bùi Xuân L, sinh ngày 17/12/1990 tại Hà Nội.
Nơi cư trú: P101 A4, tập thể K, phường K, quận T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Sỹ C và bà Nguyễn Thị B; có vợ là Nguyễn Thị Thanh T và 01 con (sinh năm 2023); tiền án: ngày 29/6/2016 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 12/12/2015. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/4/2021 (Bản án số 127/2016/HSST - Chưa được xóa án tích); tiền sự: không;
Nhân thân:
- Ngày 27/9/2005 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án về tội Cướp tài sản. Phạm tội khi 14 tuổi 01 tháng 13 ngày (Bản án số 421/2005/HSPT - Đã được xóa án tích);
- Ngày 27/12/2006 bị Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, xử phạt 26 tháng tù về tội cướp giật tài sản, tổng hợp với 18 tháng tù treo tại Bản án số 421/2005/HSPT ngày 27/9/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, buộc bị
cáo chấp hành hình phạt chung là 44 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/3/2006. Phạm tội khi 15 tuổi 01 tháng 28 ngày. (Bản án số 463/2006/HSST - Đã được xóa án tích).
- Ngày 14/3/2011 bị Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, xử phạt 36 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày 05/12/2010. Đã nộp án phí ngày 14/3/2011. (Bản án số 70/2011/HSST - Đã được xóa án tích).
- Ngày 30/11/2013 bị Công an phường L, quận Đ xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo đầu thú ngày 09/12/2023, bị tạm giữ từ ngày 09/12/2023, bị tạm giam từ ngày 15/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số II - Công an thành phố H. Có mặt.
2. Trần Đại N, sinh ngày 19/5/1990 tại Vĩnh Phúc.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn X, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; chỗ ở hiện nay: không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 và bà Hoàng Thị N1; có vợ là Nguyễn Thị Tuyết N2 và 01 con (sinh năm 2020); tiền án: ngày 03/3/2021 bị Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xử phạt 42 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 17/10/2020. Chấp hành xong hình phạt ngày 17/4/2023. (Bản án số 31/2021/HSST - Chưa được xóa án tích); tiền sự: không;
Nhân thân:
- Tháng 6/2006, bị Công an quận T xử phạt hình chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng.
- Tháng 4/2007, bị Công an quận T xử phạt hình chính về hành vi Xâm hại sức khỏe người khác.
- Ngày 25/9/2009 bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa, xử phạt 42 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2009. Ra trại ngày 12/6/2012. Đã nộp án phí ngày 26/3/2010 (Bản án số 519/2009/HSST - Đã được xóa án tích)
Bị cáo bị bắt ngày 27/3/2024, bị tạm giữ từ ngày 27/3/2024, bị tạm giam từ ngày 30/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số II - Công an thành phố H. Có mặt.
3. Đào Tiến N3, sinh ngày 19/6/1992 tại Hà Nội.
Nơi cư trú: P507 H1 Tập thể K, phường K, quận T, Hà Nội; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn T2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H (đã chết); vợ con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không;
Nhân thân:
- Tháng 12/2008, bị Công an quận H xử phạt hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng.
- Ngày 04/02/2013, bị Công an phường K, quận T xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ vũ khí thô sơ.
- Tháng 11/2016, đi cai nghiện bắt buộc. Chấp hành xong tháng 11/2018.
Bị cáo tạm giữ từ ngày 27/3/2024, bị tạm giam từ ngày 30/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số II - Công an thành phố H. Có mặt.
- Bị hại: Anh Trương Quốc H1, sinh năm 1987; nơi thường trú: số H, ngõ D B, phường C, quận H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt.
- Người làm chứng: Chị Lê Thị Thu H2, chị Trương Thị Mai K, anh Trần Xuân T3, anh Nguyễn Thành L1, cháu Nguyễn Khánh T4, anh Nguyễn Văn T5, chị Nguyễn Thị Thùy T6. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 08/12/2023, Bùi Xuân L cùng Trần Đại N, Đào Tiến N3 ngồi uống rượu ốc tại khu vực K, quận T, Hà Nội. Khoảng 02 giờ 10 phút ngày 09/12/2023, L về trước và đi một mình đến quán của chị Lê Thị Thu H2 tại số A K, phường K, quận T, thành phố Hà Nội để ăn đêm. Khi vào trong quán L ngồi một mình ở bàn phía bên trái. Lúc này, phía dãy bàn bên phải có anh Trương Quốc H1, anh Trần Xuân T3, anh Nguyễn Thành L1, cháu Nguyễn Khánh T4, anh Nguyễn Văn T5 và chị Nguyễn Thị Thùy T6 đang ngồi ăn uống. L thấy nhóm của anh H1 nói chuyện to tiếng, khệnh khạng nên L khó chịu và nảy sinh ý định rủ N, N3 đến đánh nhóm anh H1. Sau đó, L điều khiển xe máy quay lại quán ốc ở K rủ N3, N đi đánh nhóm anh H1 thì N, N3 đồng ý. L đưa N3, N về nhà L tại P A4 Tập thể K, phường K, quận T, Hà Nội lấy 02 ống tuýp sắt; 01 ống tuýp sắt gắn dao phóng lợn và 01 con dao loại dùng để chặt xương rồi L điều khiển xe máy chở N, N3 cầm theo hung khí đi đến số A K tìm đánh nhóm anh H1.
Khoảng 02 giờ 25 phút cùng ngày 9/12/2023, L, N, N3 đến trước cửa quán ăn S K. Tại đây, L dựng xe máy rồi cầm theo 01 con dao, N và N3 mỗi người cầm 01 ống tuýp sắt, bỏ lại ống tuýp sắt gắn dao phóng ở bên ngoài. Sau đó N3 đi vào trước, N đi theo sau N3, L đi sau cùng vào trong quán ăn. L chửi “địt con mẹ chúng mày thích đầu gấu không”, N cầm ống tuýp sắt đập về phía nhóm anh Trương Quốc H1 thì anh Nguyễn Văn T5 đứng dậy giơ tay phải lên đỡ và định giữ ống tuýp sắt của N. Lúc này L cầm con dao dùng sống dao chém 01 nhát trúng lưng anh T5 thì anh T5 giơ tay trái lên đỡ định giật dao trên tay L. Thấy vậy, N3 kéo anh T5 ra, L tiếp tục dùng sống dao chém 02 nhát trúng tay trái anh T5. N cầm ống tuýp sắt đập 01 cái trúng bàn mà nhóm anh H1 đang ngồi ăn. L lao vào đuổi đánh nhóm anh H1 thì cả nhóm bỏ chạy ra phía ngoài quán. L đuổi
theo và dùng dao chém 01 nhát trúng cổ tay phải, 01 nhát trúng bàn tay phải của anh H1 thì anh H1 bỏ chạy và đến Bệnh viện Đ cấp cứu. N đuổi theo anh Nguyễn Thành L1 nhưng anh L1 chạy được. Sau đó L điều khiển xe máy chở N, N3 đi quanh quán ăn số 164 K để đuổi theo nhóm anh H1 nhưng không thấy ai. Khoảng 01 phút sau thấy có xe Công an phường nên L điều khiển xe máy bỏ chạy. N3 và N vứt ống tuýp sắt lại hiện trường rồi bỏ trốn. Đối với con dao L sử dụng để gây thương tích cho anh H1, L đã vứt xuống sông T (hiện không thu hồi được).
Sau khi sự việc xảy ra, chị Trương Thị Mai K là cô ruột của anh Trương Quốc H1 đã đến trình báo Cơ quan công an.
Quá trình điều tra xác minh, cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra sự việc và thu giữ:
- Tại trước tường phía cửa ra vào nhà 101A TTA9 Khương Trung phát hiện: 01 ống tuýp sắt đường kính 02cm, dài 100cm và 01 ống tuýp sắt, một đầu được hàn nối với dao nhọn, phần tuýp sắt đường kính 02cm, dài 200cm, phần dao dài 19cm, lưỡi dao bản rộng nhất 6,5cm.
- Tại trước tường phía cửa ra vào nhà số A TTA10 Khương Trung phát hiện 01 ống tuýp sắt đường kính 02cm, dài 99cm.
Qua khám thương ban đầu tại Bệnh viện Đ xác định thương tích của anh Trương Quốc H1 khi nhập viện:
- Lý do vào viện: Đau, hạn chế vận động bàn tay phải, vết thương cổ tay, mu tay phải, vạt da lóc kích thước 5x5cm, hồng, tê bì vùng bàn tay phải.
- Kết quả cận lâm sàng khi X-quang: gãy đầu dưới xương quay phải.
- 01 (một) vết thương vùng cổ bàn tay phải, vị trí mặt mu kích thước khoảng 05cm, bờ sắc gọn, hạn chế duỗi cổ bàn tay, đầu ngón còn hồng.
- Qua phẫu thuật sơ cứu thấy đứt gân duỗi cổ tay quay, gân duỗi dài ngón cái, gân duỗi ngón II,III, IV,V tay phải.
Tại Bản kết luận giám định số 54/KLTTCT-TTPY ngày 12/01/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y xác định tỷ lệ % tổn thương cơ thể của anh Trương Quốc H1 tại thời điểm giám định:
- Các kết quả chính:
- Sẹo vết thương, vết mổ mặt sau cổ tay phải: 03%.
- Gãy đầu dưới xương quay phải: 06%.
- Tổn thương các gân duỗi cổ tay quay, gân duỗi dài ngón I, đứt gân duỗi ngón II,III,IV,V, gãy đầu dưới xương quay phải lan vào diện khớp, đã được phẫu thuật nổi gân. Hiện di chứng gây hạn chế vận động cổ tay phải: 11%.
- Kết luận:
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Trương Quốc H1 tại thời điểm giám định là: 19% (mười chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT.
- Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích do vật có cạnh sắc gây nên.
Ngày 09/12/2023, Bùi Xuân L đến Công an phường K đầu thú. Căn cứ tài liệu thu thập được, ngày 15/12/2023, Cơ quan điều tra khởi tố bị can Bùi Xuân L và ngày 26/02/2024 Cơ quan điều tra khởi tố bị can Trần Đại N, Đào Tiến N3 về tội Cố ý gây thương tích. Sau khi sự việc xảy ra, N và N3 bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra đã đề nghị truy tố đối với Bùi Xuân L và ra Quyết định truy nã đối với Trần Đại N, Đào Tiến N3.
Ngày 27/3/2024, Cơ quan điều tra đã bắt được N và N3 theo Quyết định truy nã.
Tại cơ quan điều tra, anh Trương Quốc H1 khai anh H1 suy đoán nguyên nhân sự việc do anh Nguyễn Thành L1 và anh Nguyễn Văn T5 tranh luận gay gắt, to tiếng trong khi ngồi ăn uống nên gây khó chịu cho người xung quanh và anh H1 nghi ngờ anh T5 đã gọi Bùi Xuân L đến đánh nhóm anh H1. Tuy nhiên anh T5 và L khẳng định không quen biết nhau. Qua tra cứu lịch sử liên lạc số điện thoại 0982.725.xxx mà L sử dụng, xác định trong thời điểm từ 0 giờ ngày 09/12/2023 đến thời điểm xảy ra sự việc không phát sinh cuộc gọi nào. Do đó không có căn cứ xác định anh Nguyễn Văn T5 liên quan đến hành vi phạm tội của Bùi Xuân L, Trần Đại N và Đào Tiến N3 nên Cơ quan điều tra không có căn cứ mở rộng điều tra làm rõ.
Đối với việc Bùi Xuân L dùng sống dao chém vào lưng, tay anh Nguyễn Văn T5. Do không bị thương tích nên anh T5 từ chối giám định thương tích và không yêu cầu đề nghị gì.
Đối với việc Trần Đại N khi cầm ống tuýp sắt đập trúng bàn mà nhóm anh Trương Quốc H1 đang ngồi ăn trong quán ăn số 164 K, làm vỡ 02 chiếc bát của chị Lê Thị Thu H2. Sau khi sự việc xảy ra chị H2 đã vứt 02 chiếc bát trên. Do tài sản đã cũ và không có giá trị nên không có căn cứ định giá tài sản, chị H2 không yêu cầu bồi thường nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với N.
Về dân sự, trong quá trình điều tra anh Trương Quốc H1 yêu cầu Bùi Xuân L bồi thường số tiền 200.000.000 đồng vì đã gây thiệt hại về sức khỏe và tinh thần cho anh H1. Trong thời gian chuẩn bị xét xử, anh Trương Quốc H1 đã yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền là 215.000.000 đồng cụ thể như sau:
- Bồi thường tiền thuốc và viện phí: 15.000.000 đồng.
- Bồi thường thiệt hại tổn thất tinh thần, tỷ lệ thương tật 19% vĩnh viễn sức khỏe bàn tay phải và tiền nghỉ 3 tháng không đi làm từ tháng 12/2023 đến tháng 02/2024 là: 200.000.000 đồng.
Số tiền cụ thể mà anh Trương Quốc H1 yêu cầu các bị cáo bồi thường:
- Yêu cầu bị cáo Bùi Xuân L bồi thường cho anh Trương Quốc H1 số tiền là: 115.000.000 đồng.
- Yêu cầu bị cáo Trần Đại N bồi thường cho anh Trương Quốc H1 số tiền là: 50.000.000 đồng.
- Yêu cầu bị cáo Đào Tiến N3 bồi thường cho anh Trương Quốc H1 số tiền là: 50.000.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 131/CT - VKS ngày 17/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã quyết định:
Truy tố các bị cáo Bùi Xuân L, Trần Đại N và Đào Tiến N3 về tội “Cố ý gây thương tích” theo đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134) của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và luận tội có quan điểm vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
*Về hình phạt:
- Đề nghị áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134); Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Xuân L từ 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/12/2023.
- Đề nghị áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134); Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Đại N từ 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù đến 03 (ba) năm tù về tội: “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/3/2024.
- Đề nghị áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134); Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đào Tiến N3 từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù về tội: “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/3/2024.
*Về các biện pháp tư pháp: đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 ống tuýp sắt đường kính 02cm, dài 99cm; 01 ống tuýp sắt đường kính 02cm, dài 100cm; 01 ống tuýp sắt, một đầu được hàn nối với dao nhọn, phần tuýp sắt đường kính 02cm, dài 200cm, phần dao dài 19cm, lưỡi dao bản rộng nhất 6,5cm.
*Về trách nhiệm dân sự: đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 và Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 586, Điều 587, Điều 590 và Điều 592 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Bùi Xuân L bồi thường cho anh Trương Quốc H1 số tiền là: 26.519.937 đồng; buộc bị cáo Trần Đại N bồi thường cho anh Trương Quốc H1 số tiền là: 26.519.937 đồng; buộc bị cáo Đào Tiến N3 bồi thường cho
anh Trương Quốc H1 số tiền là: 26.519.937 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Xuân L tự nguyện thay các bị cáo Trần Đại N và Đào Tiến N3 bồi thường toàn bộ về trách nhiệm dân sự cho anh Trương Quốc H1, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện trên của bị cáo Bùi Xuân L, buộc bị cáo Bùi Xuân L phải bồi thường cho anh Trương Quốc H1 số tiền là 79.559.811 đồng. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo Bùi Xuân L chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền bồi thường.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Các bị cáo nói lời sau cùng: đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình và các tình tiết giảm nhẹ để cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật và được nhận mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đánh giá về hành vi của các bị cáo theo tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận như sau: Khoảng 2 giờ ngày 09/12/2023 sau khi bị cáo Bùi Xuân L đi uống rượu ốc cùng bị cáo Trần Đại N và bị cáo Đào Tiến N3, bị cáo L đi một mình đến quán ăn đêm tại địa chỉ A K để ăn đêm. Lúc này trong quán có nhóm của anh H1 đang ngồi ăn uống trong quán. L thấy nhóm của anh H1 nói chuyện to tiếng nên khó chịu nên nảy sinh ý định đi đón N và N3 đến đánh nhóm của anh H1. Sau đó, L điều khiển xe đi đến quán ốc đón N và N3 đến nhà L để lấy hung khí bao gồm 03 ống tuýp sắt và 01 con dao mục đích đến đánh nhóm của anh H1. Khoảng 2h25' cùng ngày nhóm của L quay lại quán ăn đêm, L dựng xe máy rồi cầm 01 con dao. N3 và N cầm mỗi người 01 ống tuýp sắt không gắn dao đi vào. N3 là người đi vào trước, N đi phía sau N3 và L đi vào sau cùng. Khi vào trong quán L2 và N dùng ống tuýp sắt đập về nhóm người nêu trên thì có anh T5 giơ tay lên đỡ, L thấy vậy dùng sống dao chém 02 nhát trúng tay anh T5. N cầm ống tuýp sắt đập 01 phát trúng bàn và làm vỡ 02 bát ở quán ăn. L tiếp tục lao vào đuổi đánh nhóm của anh H1 và chém 01 nhát trúng cổ tay phải, 01 nhát trúng bàn tay phải của anh H1 làm anh H1 bị thương tích. Khi thấy nhóm anh H1 bỏ chạy, L tiếp tục dùng xe máy chở N và N3 đuổi theo nhưng không đuổi được. Khi thấy xe của Công an phường K nhóm của L bỏ chạy và về nhà ngủ. Trên đường về nhà L đã ném con dao xuống sông T.
Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác trong vụ án và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Tại Bản kết luận giám định số 54/KLTTCT-TTPY ngày 12/01/2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y xác định tỷ lệ % tổn thương cơ thể của anh Trương Quốc H1 tại thời điểm giám định kết luận tổn thương cơ thể của anh Trương Quốc H1 tại thời điểm giám định là: 19% (mười chín phần trăm).
Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 02 giờ 10 phút ngày 09/12/2023, Bùi Xuân L đến quán ăn Đ1 số A phố K, phường K, quận T, thành phố Hà Nội gặp nhóm anh Trương Quốc H1 đang ăn uống tại bàn bên cạnh. Dù không quen biết và không có mâu thuẫn gì trước đó với nhóm của anh H1, nhưng do bực tức việc nhóm của anh H1 nói chuyện to tiếng, L đã đến quán ốc tại khu vực K, quận T, thành phố Hà Nội rủ Trần Đại N và Đào Tiến N3 đến đánh nhóm của anh H1 thì N và N3 đồng ý. Sau đó L chở N và N3 về nhà L tại P A4 Tập thể K, phường K, quận T, Hà Nội để lấy hung khí rồi quay lại quán ăn. Khoảng 02 giờ 25 phút cùng ngày, L, N, N3 đến trước cửa quán ăn S phố K. Lúc này N3 cầm 01 chiếc tuýp sắt đi vào quán đầu tiên, N cầm theo 01 chiếc tuýp sắt đi sau N3, L cầm theo 01 con dao đi sau cùng. Vào trong quán, L và N lao vào đánh nhóm của anh H1. Khi cả nhóm bỏ chạy ra ngoài quán ăn thì L đuổi theo và chém 01 (một) nhát trúng cổ tay phải, 01 (một) nhát trúng bàn tay phải anh H1 gây thương tích với tỷ lệ 19%.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Bùi Xuân L, Trần Đại N và Đào Tiến N3 đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, thuộc trường hợp “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ”, tội danh và hình phạt quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134) Bộ luật hình sự.
Do đó, bản Cáo trạng số 131/CT - VKS ngày 17/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội và đề nghị của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, luận tội tại phiên tòa là có đủ cơ sở, cần được chấp nhận.
[3] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy: các bị cáo đồng phạm với nhau trong việc đánh anh H1 nên cùng phải chịu trách nhiệm về những thương tích đã gây ra cho anh H1. Trong đó bị cáo Bùi Xuân L có vai trò chính vì là người trực tiếp dùng dao để chém gây thương tích cho anh H1. Các bị cáo Trần Đại N và Đào Tiến N3 tuy không dùng hung khí gây thương tích cho anh H1 nhưng các bị cáo đã đi cùng bị cáo L giúp sức về mặt tinh thần cho bị cáo L thực hiện hành vi phạm tội nên các bị cáo N và N3 chịu trách nhiệm ngang nhau sau bị cáo L.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
- Về nhân thân: các bị cáo là người có nhân thân xấu.
- Về tình tiết tăng nặng: bị cáo Bùi Xuân L và Trần Đại N bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Bùi Xuân L ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hướng xử lý đối với các bị cáo: hành vi của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, tạo dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Căn cứ vào tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới có điều kiện giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
[6] Về trách nhiệm dân sự: trong thời gian chuẩn bị xét xử, anh Trương Quốc H1 đã yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền là 215.000.000 đồng cụ thể như sau: bồi thường tiền thuốc và viện phí: 15.000.000 đồng; bồi thường thiệt hại tổn thất tinh thần, tỷ lệ thương tật 19% vĩnh viễn sức khỏe bàn tay phải và tiền nghỉ 3 tháng không đi làm từ tháng 12/2023 đến tháng 02/2024 là: 200.000.000 đồng.
Số tiền cụ thể mà anh Trương Quốc H1 yêu cầu các bị cáo bồi thường:
- Yêu cầu bị cáo Bùi Xuân L bồi thường cho anh Trương Quốc H1 số tiền là: 115.000.000 đồng.
- Yêu cầu bị cáo Trần Đại N bồi thường cho anh Trương Quốc H1 số tiền là: 50.000.000 đồng.
- Yêu cầu bị cáo Đào Tiến N3 bồi thường cho anh Trương Quốc H1 số tiền là: 50.000.000 đồng.
Xét các yêu cầu bồi thường của bị hại thấy: các bị cáo do là đồng phạm với nhau trong vụ án nên mức bồi thường cho anh Trương Quốc H1 sẽ ngang với nhau.
Về yêu cầu đòi bồi thường tiền thuốc + viện phí: theo bảng kê chi phí điều trị nội trú của Bệnh viện Đ tổng số tiền viện phí của anh H1 là 15.659.811 đồng là những chi phí mà anh H1 phải chi trả trong quá trình điều trị, vết thương của anh H1 do bị cáo L gây ra. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 590 Bộ luật Dân sự buộc các bị cáo phải chi trả cho anh H1 toàn bộ số tiền nêu viện phí nêu trên là có căn cứ để chấp nhận. Mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh H1 số tiền là: 5.219.937 đồng.
- Về yêu cầu bồi thường thiệt hại do anh H1 nghỉ 3 tháng không đi làm: trong quá trình chuẩn bị xét xử, anh Trương Quốc H1 cung cấp cho Tòa án Hợp đồng lao động giữa anh H1 và Công ty TNHH T7 với chức vụ là: cán bộ giám sát hàng hóa, vận tải, xuất nhập khẩu với mức lương: 11.000.000 đồng, phụ cấp 2.500.000 đồng. Tổng mức lương của anh H1 là: 13.500.000 đồng/tháng. Anh H1 có cung cấp đơn xin nghỉ phép 03 tháng từ 01/01/2024 đến ngày 01/4/2024. Hội đồng xét xử thấy: căn cứ điểm b khoản 1 Điều 590 Bộ luật Dân sự thu nhập thực tế bị mất của anh H1 là có thật nên buộc các bị cáo phải chi trả cho anh H1 là có căn cứ để chấp nhận. Mức tính như sau: 13.500.000 đồng/tháng x 03 tháng = 40.5000.000 đồng. Mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh H1 là: 13.500.000 đồng.
- Ngoài ra anh H1 yêu cầu bồi thường về tổn thất tinh thần. Hội đồng xét xử nhận thấy: hành vi của các bị cáo côn đồ, hung hãm, coi thường pháp luật giữa anh H1 và các bị cáo không có mâu thuẫn, bị cáo L khai do thấy bên bàn của anh H1 nói to, thấy ngứa mắt nên về rủ hai bị cáo N và N3 mang dao và tuýp sắt ra đánh dẫn đến thương tích 19% cho anh H1 vì vậy cả ba bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường tổn thất tinh thần cho anh H1 cụ thể như sau: căn cứ khoản 2 Điều 590 Bộ luật Dân sự quy định ngoài việc về việc bồi thường trong trường hợp sức khỏe bị xâm phạm còn phải tổn thất tinh thần tính mức tối đa không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. Căn cứ vào nghề nghiệp, sự ảnh hưởng đến công việc và sinh hoạt, Hội đồng xét xử chấp nhận mức bồi thường tổn thất về mặt tinh thần cho anh H1 tương đương với 10 tháng lương cơ sở là 23.400.000 đồng và chia đều cho ba bị cáo phải bồi thường cho anh H1. Mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh H1 là: 7.800.000đ
Tổng cộng các bị cáo phải bồi thường cho anh H1 cụ thể như sau:
- Bị cáo Bùi Xuân L có trách nhiệm bồi thường cho anh Trương Quốc H1 số tiền là: 26.519.937đ (hai mươi sáu triệu, năm trăm mười chín nghìn, chín trăm ba mươi bảy đồng).
- Bị cáo Trần Đại N có trách nhiệm bồi thường cho anh Trương Quốc H1 số tiền là: 26.519.937đ (hai mươi sáu triệu, năm trăm mười chín nghìn, chín trăm ba mươi bảy đồng).
- Bị cáo Đào Tiến N3 có trách nhiệm bồi thường cho anh Trương Quốc H1 số tiền là: 26.519.937đ (hai mươi sáu triệu, năm trăm mười chín nghìn, chín trăm ba mươi bảy đồng).
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Xuân L tự nguyện thay các bị cáo Trần Đại N và Đào Tiến N3 bồi thường toàn bộ trách nhiệm dân sự cho anh Trương Quốc H1 vì bị cáo là người trực tiếp gây thương tích cho anh H1. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của bị cáo Bùi Xuân L, các bị cáo Trần Đại N và Đào Tiến N3 không có ý kiến gì về sự tự nguyện của bị cáo Bùi Xuân L nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện trên. Buộc bị cáo Bùi Xuân L phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Trương Quốc H1 số tiền là: 79.559.811đ (bảy mươi chín triệu, năm trăm
năm mươi chín nghìn, tám trăm mười một đồng).
[7] Về vật chứng của vụ án và các vấn đề khác:
- Đối với 01 ống tuýp sắt đường kính 02cm, dài 99cm; 01 ống tuýp sắt đường kính 02cm, dài 100cm; 01 ống tuýp sắt, một đầu được hàn nối với dao nhọn, phần tuýp sắt đường kính 02cm, dài 200cm, phần dao dài 19cm, lưỡi dao bản rộng nhất 6,5cm là công cụ các bị cáo thực hiện vào hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với việc anh H1 suy đoán nguyên nhân sự việc do anh Nguyễn Thành L1 và anh Nguyễn Văn T5 tranh luận gay gắt, to tiếng trong khi ngồi ăn uống nên gây khó chịu cho người xung quanh và anh H1 nghi ngờ anh T5 đã gọi bị cáo L đến đánh nhóm anh H1. Tuy nhiên, anh T5 và bị cáo L khẳng định không quen biết nhau. Qua tra cứu lịch sử liên lạc số điện thoại 0982.725.xxx mà L sử dụng, xác định trong thời điểm từ 0 giờ ngày 09/12/2023 đến thời điểm xảy ra sự việc không phát sinh cuộc gọi nào. Do đó không có căn cứ xác định anh Nguyễn Văn T5 liên quan đến hành vi phạm tội của Bùi Xuân L, Trần Đại N và Đào Tiến N3, cơ quan điều tra không có căn cứ mở rộng điều tra làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Đối với việc bị cáo L dùng sống dao chém vào lưng, tay anh Nguyễn Văn T5. Do không bị thương tích nên anh T5 từ chối giám định thương tích và không yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Đối với việc bị cáo N khi cầm ống tuýp sắt đập trúng bàn mà nhóm anh Trương Quốc H1 đang ngồi ăn trong quán ăn số 164 K, làm vỡ 02 chiếc bát của chị Lê Thị Thu H2. Sau khi sự việc xảy ra chị H2 đã vứt 02 chiếc bát trên. Do tài sản đã cũ và không có giá trị nên không có căn cứ định giá tài sản, chị H2 không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8] Về án phí:
- Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật và bị cáo Bùi Xuân L phải chịu án phí về trách nhiệm bồi thường dân sự theo quy định của pháp luật.
- Anh Trương Quốc H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về số tiền không được Tòa án chấp nhận về yêu cầu bồi thường.
[9] Về quyền kháng cáo: các bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
- Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134); Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Xuân L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/12/2023.
- Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134); Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Đại N 03 (ba) năm tù về tội: “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/3/2024.
- Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134); Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đào Tiến N3 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/3/2024.
2. Về các biện pháp tư pháp: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 ống tuýp sắt đường kính 02cm, dài 99cm; 01 ống tuýp sắt đường kính 02cm, dài 100cm; 01 ống tuýp sắt, một đầu được hàn nối với dao nhọn, phần tuýp sắt đường kính 02cm, dài 200cm, phần dao dài 19cm, lưỡi dao bản rộng nhất 6,5cm.
(Tình trạng các vật chứng nêu trên như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/7/2024 giữa Công an quận T và Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân).
3. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 và Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 357; Điều 468, Điều 584, Điều 586, Điều 587, Điều 590 và Điều 592 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Bùi Xuân L bồi thường cho anh Trương Quốc H1 số tiền là: 79.559.811đ (bảy mươi chín triệu, năm trăm năm mươi chín nghìn, tám trăm mười một đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
4. Về án phí: áp dụng điểm d khoản 1 Điều 12; các điểm a, c khoản 1 Điều 23; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 /12 /2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Bùi Xuân L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu 3.977.991đ (ba triệu, chín trăm bảy mươi bảy nghìn, chín trăm chín mươi mốt đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng bị cáo Bùi Xuân L phải chịu 4.177.991đ (bốn triệu, một trăm bảy mươi bảy nghìn, chín trăm chín mươi mốt đồng) tiền án phí.
- Các bị cáo Trần Đại N và Đào Tiến N3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
- Anh Trương Quốc H1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lưu Thị Hồng Vân |
Bản án số 165/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cố ý gây thương tích (intentionally inflicting injury)
- Số bản án: 165/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Intentionally inflicting injury)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Xuân L cùng đồng phạm phạm tội Cố ý gây thương tích
