Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 165/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24-06-2024

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Thành
Ông Nguyễn Hoàng Tâm

- Thư ký phiên tòa:

Ông Nguyễn An Ninh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 24 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 49/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 03 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 22/04/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 83/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23/05/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Tố U, sinh năm 1998 (vắng mặt)

    Nơi thường trú: Thôn Đ, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang

    Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn K, sinh năm 1998 (vắng mặt)

    Nơi thường trú: thôn Đ, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    (Hiện đang cư trú, lao động ở nước ngoài không rõ địa chỉ)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai nguyên đơn chị Trần Thị Tố U, trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Văn K kết hôn với nhau ngày 20/03/2020 tại UBND xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn chị và anh Hoàng Văn K có được tự do tìm hiểu, có được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ

chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Sau khi cưới xong anh Hoàng Văn K làm thủ tục sang Đài Loan lao động. Trong thời gian đầu anh K đi Đài Loan hai vợ chồng chị vẫn giữ liên lạc với nhau. Tuy nhiên, do xa cách khoảng thời gian dài không gặp nhau chị và chồng nảy sinh mâu thuẫn thường xuyên tranh cãi. Đến nay mâu thuẫn giữa chị và chồng không thể giải quyết được và ngày càng trầm trọng, mệt mỏi. Hiện nay chị không liên lạc được với anh K, cũng không biết địa chỉ cụ thể của anh K đang sinh sống làm việc ở đâu. Nhận thấy mục đích hôn nhân không thể đạt được, tình cảm giữa vợ chồng không còn, không thể tiếp tục đồng hành cùng nhau được nữa. Chị yêu cầu Tòa giải quyết để chị được ly hôn anh Hoàng Văn K.

Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là cháu Hoàng Quốc A, sinh ngày 15/05/2020. Cháu ở với chị từ khi sinh ra đến nay, sau khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao con cho chị nuôi dưỡng chăm sóc.

Về cấp dưỡng nuôi con: vợ chồng chị tự thỏa thuận, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng chị tự thỏa thuận, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Hoàng Văn K là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Ngày 01/3/2024 và ngày 18/4/2024, Tòa án lấy lời khai đối với ông Hoàng Văn N là bố đẻ anh Hoàng Văn K: Ông N cung cấp anh K là con trai ông, chị Trần Thị Tố U là con dâu ông. Anh K hiện nay đang lao động ở nước ngoài, gia đình ông và anh K vẫn thường xuyên liên lạc qua điện thoại. Ông không biết địa chỉ cụ thể của anh K ở nước ngoài như thế nào, ông cũng đã nhiều lần thông báo cho để anh K cung cấp địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, nhưng anh K không cung cấp. Ông đã thông báo cho anh K thông báo thụ lý vụ án số: 49/TBTL-VA ngày 01/03/2024 về việc chị U có đơn xin ly hôn cho anh K biết. Gia đình ông đồng ý nhận các thông báo của Tòa án và thông báo ngay nội dung cho anh K biết.

Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Trần Thị Tố U và anh Hoàng Văn K vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Trần Thị Tố U và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Đối với nguyên đơn chị U vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn anh K vắng không có lý do, không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, 81, 82, 83 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Tố U. Xử cho chị U được ly hôn anh Hoàng Văn K.

Về con chung: giao cháu Hoàng Quốc A, sinh ngày 15/05/2020 cho chị Trần Thị Tố U nuôi dưỡng.

Về tài sản chung, công nợ chung: do chị U không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Trần Thị Tố U phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Trần Thị Tố U khởi kiện xin ly hôn chị anh Hoàng Văn K và yêu cầu giải quyết về ly hôn và nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Trần Thị Tố U là nguyên đơn có đơn xin ly hôn anh Hoàng Văn K căn cứ công văn số 5043/QLXNC-P3 ngày 14/03/2024 của Cục Q- Bộ C cung cấp anh Hoàng Văn K đã xuất nhập cảnh 05 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 09/08/2020, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Mặt khác, chị U và anh K đều có nơi thường trú tại thôn Đ, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do vụ án có bị đơn anh K hiện đang ở nước ngoài. Nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3].Về việc vắng mặt đương sự: Đối với nguyên đơn chị Trần Thị Tố U, vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với chị U.

Đối với bị đơn anh K, hiện đang lao động ở nước ngoài, Tòa án đã yêu cầu người thân của anh K cung cấp địa chỉ ở nước ngoài hai lần nhưng vẫn không cung cấp, nên xác định bị đơn cố tình dấu địa chỉ. Do vậy, Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật. Do anh K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần

nhưng anh K vắng mặt không có lý do, nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh K.

[4]. Về hôn nhân: Chị Trần Thị Tố U và anh Hoàng Văn K kết hôn với nhau ngày 20/03/2020 trên cơ sở tự nguyện có đăn ký kết hôn tại UBND xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang . Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Chị U khởi kiện xin ly hôn anh K.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị U yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn với anh K. Hội đồng xét xử thấy sau khi kết hôn chị U và anh K chung sống với nhau trong một thời gian ngắn. Sau đó anh Hoàng Văn K sang Đài Loan lao động. Thời gian đầu anh K đi nước ngoài vợ chồng chị U và anh K vẫn giữ liên lạc với nhau. Nhưng do xa cách khoảng thời gian dài không gặp nhau chị và anh K nảy sinh mâu thuẫn thường xuyên tranh cãi mỗi khi liên lạc. Đến nay mâu thuẫn giữa chị và anh K không thể giải quyết được và ngày càng trầm trọng, mệt mỏi. Chị U xác định chị không liên lạc được với anh K, cũng không biết địa chỉ cụ thể của anh K đang sinh sống làm việc ở đâu. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng chị U, anh K không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị U, xử cho chị U được ly hôn anh K là phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế, cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.

[5]. Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Hoàng Quốc A, sinh ngày 15/05/2020. Cháu Hoàng Quốc A ở với chị U từ khi sinh ra đến nay, sau khi ly hôn chị U có nguyện vọng đề nghị Tòa án giao con cho chị nuôi dưỡng chăm sóc.

Xét yêu nuôi con chung của chị U, Hội đồng xét xử thấy: anh K hiện đang lao động ở nước ngoài nên không thể trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Mặt khác, cháu A từ khi sinh ra cho đến nay vẫn do chị U chăm sóc, nuôi dưỡng, cháu phát triển bình thường cả về thể chất lẫn tinh thần. Nên yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung của chị U là có căn cứ. Do vậy, căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị U, giao cháu Hoàng Quốc A, sinh ngày 15/05/2020 cho chị U trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp với tình hình thực tế và đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con chung cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Sau khi ly hôn anh Hoàng Văn K có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh K thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Trường hợp anh Hoàng Văn K có nguyện vọng thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

[6]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị U không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7]. Về tài sản, công nợ: Chị U không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Chị U phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

[9]. Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, chị U hiện đang ở trong nước nhưng vắng mặt tại phiên tòa, nên có thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự, anh K hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa, nên có thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Diều 82; Điều 83; khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 479; Điều 271; Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Tố U được ly hôn anh Hoàng Văn K.
  2. Về nuôi con chung: Giao cháu Hoàng Quốc A, sinh ngày 15/05/2020 cho chị Trần Thị Tố U trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Anh Hoàng Văn K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở anh K thực hiện quyền này.

  3. Về án phí: Chị Trần Thị Tố U phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001084 ngày 01/03/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị U đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  1. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Trần Thị Tố U có quyền kháng cáo bản án là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

    Anh Hoàng Văn K có quyền kháng cáo bản án của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã An Hà, huyện Lạng Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Hoàng Thị Thu Hiền

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Thành Nguyễn Hoàng Tâm

Hoàng Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 165/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 165/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa chị U và anh K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger