Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 165/2023/HS-ST

Ngày 22/12/2023

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hiệp Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Hùng Bích;

Ông Đặng Hữu Tấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đức Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 159/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Võ Hữu N (Nghĩa Đầu S), sinh năm 1985, tại thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: số G, đường T, Khóm D, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Võ Hữu T và bà Phạm Hồng B (đã chết); sống chung như vợ chồng với Nguyễn Ngọc G, có 01 người con, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 24/12/2004 bị Tòa án nhân dân thị xã Cao Lãnh (nay là thành phố C), tỉnh Đồng Tháp xử phạt 10 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong hình phạt ngày 07/4/2013.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/9/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L; có mặt.

- Bị hại: Ông Trần S1, sinh năm 1967; nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1993; nơi cư trú: tổ A, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; vắng mặt.

- Bà Nguyễn Ngọc G, sinh năm 1990; nơi cư trú: khóm M, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Hữu N sống chung như vợ chồng với bà Nguyễn Thị M trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2019 thì không còn sống chung. Khoảng 01 giờ ngày 11/9/2022, N cho rằng bà M có quan hệ tình cảm với người khác nên gọi điện thoại cự cãi với bà M. Sau khi cự cãi, N vào bếp lấy 01 con dao loại chặt thịt, cán bằng gỗ dài 10cm, lưỡi bằng kim loại dài 40cm để lên ba ga xe mô tô điều khiển từ thành phố C, tỉnh Đồng Tháp đến nhà bà M. Đến khoảng 03 giờ ngày 11/9/2022 thì N đến nhà ở bà M thuộc khóm Đ, phường M, thành phố L. Tại đây, thấy ông Trần S1 đang ngủ trên võng (ngủ nhờ nhà bà M) thì N dùng dao chém đứt dây võng làm ông S1 ngã xuống đất. N bảo ông S1 không được ngồi dậy nhưng ông S1 vẫn ngồi dậy thì bị N dùng dao chém trúng tay phải gây thương tích. Nghe tiếng kêu cứu của ông S1 nên bà M và bà Nguyễn Thị Kim G1 (chị ruột của M) ngủ ở nhà bà G1 cách đó khoảng 30m chạy đến khuyên ngăn thì N bỏ đi.

Căn cứ Kết luận giám định pháp y về thương tích số 670/22/TgT ngày 08 tháng 12 năm 2022 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Trần S1, sinh năm 1967, ghi nhận như sau:

- Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo kẻ ngón I, II, từ mặt lòng mô út vòng qua mặt lưng đốt bàn tay ngón I, bàn tay phải, kích thước (22 x 0,3)cm, bờ sắc gọn, sẹo hồng, lồi. Gây đứt cơ mô cái, gần gấp ngón cái, bó mạch thần kinh riêng ngón I đã phẫu thuật khẩu nối mạch máu và thần kinh. Hiện tại: cứng khớp đốt bàn ngón I bàn tay phải.

- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 17%.

- Kết luận khác: Thương tích do vật sắc gây.

Ngày 10/7/2023, Võ Hữu N bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L khởi tố để điều tra, xử lý.

Tại Cáo trạng số 160/CT-VKSLX ngày 20 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Võ Hữu N về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ hình phạt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Ngọc G cung cấp lời khai như đã khai trong giai đoạn điều tra; không có ý kiến tranh luận.

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • * Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Võ Hữu N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
  • * Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên không xét đến.
  • * Về xử lý vật chứng: Không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án.

Do đó, có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 03 giờ ngày 11/9/2022, tại khu vực nhà ở của bà M thuộc khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, bị cáo N có hành vi dùng hung khí nguy hiểm là dao có lưỡi bằng kim loại dài 40cm chém 01 nhát trúng vào tay phải của bị hại S1. Hậu quả làm bị hại Sên đứt cơ mô cái, gần gấp ngón cái, với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tật gây nên là 17%.

Trong quá trình điều tra, qua lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng thì cách thức bị cáo thực hiện hành vi, công cụ mà bị cáo gây thương tích cho bị hại phù hợp với các vết thương trên người bị hại. Về ý thức của bị cáo gây thương tích cho bị hại là do nóng giận tức thời. Bị cáo không có ý định nhắm vào vị trí nào trên cơ thể của bị hại và không có ý định giết người. Vì vậy, không có cơ sở xác định bị cáo muốn tước đoạt tính mạng sống của bị hại.

Hành vi nêu trên của bị cáo N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, có khung hình phạt từ 02 năm đến 06 năm tù.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo Nghĩa là người có sức khỏe và có hiểu biết nhất định về pháp luật, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân xấu, bị Tòa án nhân dân thị xã Cao Lãnh (nay là thành phố C), tỉnh Đồng Tháp xử phạt 10 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” vào 24/12/2004. Sau khi chấp hành xong hình phạt trở về địa phương sinh sống nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân dẫn đến vi phạm pháp luật. Trong vụ án này, hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý; động cơ, mục đích của tội phạm là dùng hung khí nguy hiểm nhằm gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe của người khác; mặc dù, giữa bị cáo và bị hại không mâu thuẫn với nhau, bị hại cũng không có lời lẽ thách thức hay xúc phạm bị cáo; chỉ vì ghen tuông vô có mà bị cáo đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại, thể hiện tính côn đồ, hung hãn.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ mà không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bị hại không cao (17%) và đã được điều trị ổn định. Tuy nhiên, về tính chất của vụ án là nghiêm trọng, bị cáo đã từng bị cáo kết án nhưng nay lại tiếp tục phạm tội thể hiện tính xem thường pháp luật nên việc áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội là cần thiết, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận số tiền bồi thường 28.000.000 đồng (thông qua bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Ngọc G sống chung như vợ chồng với bị cáo), bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Trong giai đoạn điều tra do được bị cáo N tác động nên bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Ngọc G đã bồi thường 28.000.000 đồng cho bị hại Sên. Do bà M, bà G không yêu cầu bị cáo hoàn lại số tiền đã bỏ ra để bồi thường nên không đề cập giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với 01 con dao (loại chặt thịt), cán bằng gỗ dài 10cm, lưỡi bằng kim loại dài 40cm được bị cáo mang theo đến nhà ở của M. Đây, là công cụ phạm tội nhưng bị cáo đã vứt bỏ xuống sông (khu vực cầu V) và không thu hồi được nên không đề cập xử lý.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Dream (không rõ biển sổ), bị cáo đã bán cho một người không rõ nhân thân nên Cơ quan điều tra chưa thu hồi được. Vì vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp với quy định pháp luật.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Trong giai đoạn điều tra, đã tự nguyện bồi thường xong cho bị hại cho nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  2. Tuyên bố bị cáo Võ Hữu N phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

    Xử phạt: Võ Hữu Nghĩa 02 (hai) năm tù;

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 18/9/2023).

  3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  4. Buộc bị cáo Võ Hữu N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  6. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

    Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Long Xuyên;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Nhà Tạm giữ Công an TP. Long Xuyên;
  • - CQTHAHS Công an TP. Long Xuyên;
  • - CQĐT Công an TP. Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS TP. Long Xuyên;
  • - Bộ phận THA Tòa án;
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lại Hiệp Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 165/2023/HS-ST ngày 22/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 165/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Hữu Nghĩa sống chung như vợ chồng với bà Nguyễn Thị Mai trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2019 thì không còn sống chung. Khoảng 01 giờ ngày 11/9/2022, Nghĩa cho rằng bà Mai có quan hệ tình cảm với người khác nên gọi điện thoại cự cãi với bà Mai. Sau khi cự cãi, Nghĩa vào bếp lấy 01 con dao loại chặt thịt, cán bằng gỗ dài 10cm, lưỡi bằng kim loại dài 40cm để lên ba ga xe mô tô điều khiển từ thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đến nhà bà Mai. Đến khoảng 03 giờ ngày 11/9/2022 thì Nghĩa đến nhà ở bà Mai thuộc khóm Đông Thịnh 8, phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên. Tại đây, thấy ông Trần Sên đang ngủ trên võng (ngủ nhờ nhà bà Mai) thì Nghĩa dùng dao chém đứt dây võng làm ông Sên ngã xuống đất. Nghĩa bảo ông Sên không được ngồi dậy nhưng ông Sên vẫn ngồi dậy thì bị Nghĩa dùng dao chém trúng tay phải gây thương tích. Nghe tiếng kêu cứu của ông Sên nên bà Mai và bà Nguyễn Thị Kim Giáng (chị ruột của Mai) ngủ ở nhà bà Giáng cách đó khoảng 30m chạy đến khuyên ngăn thì Nghĩa bỏ đi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger