TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:165/2023/HSST Ngày 22 tháng 12 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Văn Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Phước Lộc
- 2. Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Cẩm Duyên – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Ông Lê Hữu Nghị - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 163/2023/HS-ST ngày 24 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2023/QĐXXST- HS, ngày 05 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Trần Doãn M (Minh D); sinh ngày 06 tháng 5 năm 1993; giới tính: Nam; tại: L - Hà Tĩnh; nơi thường trú: Thôn C, xã B, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; chỗ ở: Khu phố D, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; con ông Trần Doãn D1 và bà Trần Thị T; anh chị em có 01 người sinh năm 1991; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: Ngày 29/3/2017, bị Toà án nhân dân huyện Xuyên Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009. Ngày 03/11/2021, chấp hành xong hình phạt tù và án phí, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/8/2023 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 23/8/2023, do cần sử dụng trái phép chất ma tuý nên Trần Doãn M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại sonic, màu đỏ, trắng, đen, biển kiểm soát 38 L1 – 304.92 chạy từ nhà trọ O, thuộc khu phố D, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang đến khu vực cổng cảng V, thuộc ấp S, xã D, thành phố P để mua ma tuý. Tại đây, M gặp một người thanh niên khoảng 40 tuổi (chưa rõ nhân thân) hỏi mua 3.300.000 đồng ma tuý đá, người thanh niên đồng ý bán cho M 03 bịch ma tuý. Sau khi mua được ma tuý, M lấy một bịch ma tuý cắt giấu vào trong túi quần bên phải, phía trước mà M đang mặc trên người, 02 bịch ma tuý còn lại M dùng băng keo 02 mặt có sẵn trên xe dán vào vùng bụng phía trên bên trái rốn của M rồi tiếp tục điều khiển xe tìm nơi sử dụng ma tuý.
Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi M điều khiển xe mô tô đến khu vực cổng khách sạn M1, thuộc khu phố F, phường A, thành phố P, thì bị Phòng Phòng chống tội phạm ma túy – Bộ Tư lệnh vùng Cảnh sát biển 4 tiến hành kiểm tra, thu giữ 03 bịch ma túy M đang cất giấu, nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngày 28/8/2023, Bộ Tư lệnh vùng Cảnh sát biển 4 ra Quyết định khởi tố vụ án, chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P để điều tra theo thẩm quyền. Cùng ngày 28/8/2023, Trần Doãn M bị khởi tố, tạm giam để điều tra.
Tang vật vụ án thu giữ gồm: 03 bịch nylon màu trắng, được hàn kín, kích thước khoảng 4,0cm x 2,5cm bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất, đã được niêm phong; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Sonic, màu đỏ, trắng, đen, số khung MH1KB1117KK236209, số máy KB11E1235632, biển kiểm soát 38L1-304.92, xe đã qua sử dụng và 01 đoạn băng keo hai mặt màu xanh kích thước 2,3cm x 7,5cm, đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số: 904/KL-KTHS ngày 26/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh K như sau: Các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất chứa bên trong 03 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 3,4684 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ – CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại Cáo trạng số: 171/CT-VKSPQ ngày 23/11/2023, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Trần Doãn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Doãn M từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Sonic, màu đỏ, trắng, đen, số khung MH1KB1117KK236209, số máy KB11E1235632, biển kiểm soát 38L1-304.92, xe đã qua sử dụng; các hạt tinh thể rắn, màu trắng, còn lại sau giám định có khối lượng 3,3748 gam đựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số: 904/2023; 01 đoạn băng keo hai mặt màu xanh kích thước 7,5cm x 2,3cm, đã qua sử dụng. Tất cả đã nhập kho vật chứng, đề nghị xử lý theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Trần Doãn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 23/8/2023, tại khu vực cổng khách sạn M1, thuộc khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, Phòng Phòng chống tội phạm ma túy – Bộ Tư lệnh vùng Cảnh sát biển 4 bắt quả tang Trần Doãn M đang tàng trữ trái phép 3,4684 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm mất an ninh trật tự trên địa bàn thành phố P. Chất ma tuý là chất gây nghiện, có tính chất kích thích thần kinh, có tác hại lớn, không chỉ đến sức khoẻ con người mà còn là nguyên nhân gây phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Do đó, cần có mức án tương xứng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
[4] Xét tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 29/3/2017, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Xuyên Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009. Ngày 03/11/2021, chấp hành xong hình phạt tù và án phí, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích vụ lợi. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Sonic màu đỏ, trắng, đen, số khung MH1KB1117KK236209, số máy KB11E1235632, biển kiểm soát 38L1-304.92, xe đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với khối lượng ma túy còn lại sau giám định là 3,3748 gam đựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số: 904/2023 là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 đoạn băng keo hai mặt màu xanh kích thước 7,5cm x 2,3cm, đã qua sử dụng là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Về nguồn gốc ma túy: Đối với người thanh niên có độ tuổi khoảng 40 (chưa rõ nhân thân) đã bán ma tuý cho Trần Doãn M, Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ sẽ xử lý sau.
[9] Xét đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên toà về việc định tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Doãn M (Minh D) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Doãn M (Minh D) 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 23/8/2023.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Sonic, màu đỏ, trắng, đen, số khung MH1KB1117KK236209, số máy KB11E1235632, biển kiểm soát 38L1-304.92, xe đã qua sử dụng.
- - Tịch thu tiêu hủy: Khối lượng ma túy còn lại sau giám định là 3,3748 gam đựng trong một bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số: 904/2023 và 01 đoạn băng keo hai mặt màu xanh kích thước 7,5cm x 2,3cm, đã qua sử dụng.
- (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 24/11/2023) (BL 95).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Doãn M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7,7a và Điều 9 Luật gthi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Văn Bình |
Bản án số 165/2023/HSST ngày 22/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 165/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Doãn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
