Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 165A/2024/HS-ST.

Ngày 22/8/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trần Kiên.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vượng;

Ông Nguyễn Văn Bảng.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dương Quỳnh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 156/2024/TLST-HS, ngày 06 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đức H, sinh năm 1998, nơi ĐKHKTT và nơi ở: Số nhà E, đường T, tổ dân phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1970 và bà Phạm Thị Ngọc Y, sinh năm 1975; vợ: Vũ Nhật A, sinh năm 2000; con: Có 01 con, sinh năm 2019; tiền án: Không có; tiền sự: Không có. Bị cáo được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

Công ty Cổ phần D; địa chỉ: Số D đường X, Phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lương Duy H1 – Tổng Giám đốc; người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Đức T1 – Chức vụ: Quản lý khu vực; địa chỉ: Số nhà C, ngõ D, đường Á, phường T, thành phố B (vắng mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Ngô Văn S, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn X, xã T, thành phố B. (vắng mặt).

2. Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1970; nơi cư trú: Số nhà E, đường T, tổ dân phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty Cổ phần D hàng nhanh được Sở Kế hoạch và đầu tư thành phố H cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; trụ sở tại số D X, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh do ông Lương Duy H1 là người đại diện theo pháp luật. Công ty được Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh B cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh tại Bưu cục B, địa chỉ số A, đường G, phường D, thành phố B với ngành nghề kinh doanh là giao hàng thương mại điện tử, bưu chính, chuyển phát.

Ngày 17/8/2022, bà Lê Thị Đoan T2 là Giám đốc nhân sự của Công ty ký hợp đồng dịch vụ điện tử số 3035664/HĐDV/EXP/2022 với Nguyễn Đức H làm cộng tác viên từ ngày 18/8/2022 đến hết ngày 30/9/2023 tại Bưu cục B với chức năng, nhiệm vụ là nhân viên phát triển thị trường.

Theo đó bị cáo có nhiệm vụ nhận hàng bàn giao trực tiếp từ nhân viên xử lý tại kho làm việc, tiếp nhận thông tin chuyến đi giao/trả trên ứng dụng “Tài xế giao hang nhanh” (App m) sau đó tiến hành đồng kiểm số lượng đơn hàng, tình trạng niêm phong hàng hóa với nhân viên xử lý nhưng tối thiểu phải thực hiện 02 lần vào đầu giờ buổi sáng và đầu giờ buổi chiều (buổi sáng từ 7 giờ 30 phút và buổi chiều từ 13 giờ), thực hiện việc lấy/giao/trả hàng, cập nhật thông tin trên App m-PDS; bàn giao và hoàn tất công việc. Bị cáo phải quay về chi nhánh vào 19 giờ hàng ngày hoặc muộn nhất là sáng ngày hôm sau để trả lại đơn hàng đã giao quá ba lần nhưng không thành công và bàn giao tổng số tiền đã nhận từ khách (tiền COD, tiền cước) cho nhân viên xử lý đúng với số tiền hiển thị trên hệ thống và theo dõi việc mà nhân viên xử lý xác nhận đã thu tiền trên hệ thống tương ứng trên App m-PDS.

Từ ngày 18/9/2022 đến ngày 20/9/2022, H đã nhận tổng số 51 đơn hàng từ anh Ngô Văn S là nhân viên xử lý của Bưu cục B để đi giao hàng và đã giao thành công tổng số 19 đơn hàng cho 17 khách, bị cáo đã giao thành công 19 đơn hàng và nhận của khách tổng số tiền 22.904.048 đồng, nhưng không nộp tiền về Công ty theo quy định mà chiếm đoạt số tiền trên, sử dụng chi tiêu cá nhân và đánh bạc online qua ứng dụng Sunwin.

Đối với 32 đơn hàng còn lại chưa giao được cho khách, bị cáo chưa đến Công ty để nộp lại nên đã để số đơn hàng này tại nhà và nói với bố đẻ là ông Nguyễn Anh T khi nào Công ty đến lấy thì trả lại. Sau đó tự ý nghỉ việc tại công ty.

Công ty D hàng nhanh nhiều lần liên hệ với bị cáo nhưng không liên lạc được. Buổi sáng ngày 21/9/2022, anh Ngô Văn S đến nhà bị cáo nhưng bị cáo không có mặt ở nhà. Ông Nguyễn Anh T đã giao lại cho anh S toàn bộ 32 đơn hàng mà bị cáo chưa giao được.

Tại Bản Cáo trạng số: 161/CT-VKS ngày 05/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố Nguyễn Đức H về tội “Tham ô tài sản” theo khoản 1 Điều 353 của Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà:

- Bị cáo Nguyễn Đức H khai nhận toàn bộ hành vi như bản cáo trạng đã nêu: Ngày 17/8/2022, bị cáo ký với Công ty hợp đồng dịch vụ điện tử làm cộng tác viên từ ngày 18/8/2022 đến hết ngày 30/9/2023 tại Bưu cục B với chức năng, nhiệm vụ là nhân viên phát triển thị trường. Bị cáo có nhiệm vụ nhận hàng bàn giao trực tiếp từ nhân viên xử lý tại kho làm việc, tiếp nhận thông tin chuyến đi giao/trả trên ứng dụng “Tài xế giao hang nhanh”. Từ ngày 18/9/2022 đến ngày 20/9/2022, bị cáo đã nhận tổng số 51 đơn hàng từ anh Ngô Văn S là nhân viên xử lý của Bưu cục B để đi giao hàng và đã giao thành công 19 đơn hàng và nhận của khách tổng số tiền 22.904.048 đồng, nhưng không nộp tiền về Công ty mà sử dụng chi tiêu cá nhân và đánh bạc online qua ứng dụng Sunwin. Đối với 32 đơn hàng còn lại chưa giao được cho khách, bị cáo chưa đến Công ty để nộp lại nên đã để số đơn hàng này tại nhà và nói với bố đẻ là ông Nguyễn Anh T khi nào Công ty đến lấy thì trả lại. Sau đó tự ý nghỉ việc tại công ty. Nay bị cáo thấy là sai trái, là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

- Đại diện bị hại là ông Phạm Đức T1 khai xác định: Ngày 17/8/2022, Công ty ký hợp đồng dịch vụ điện tử với Nguyễn Đức H làm cộng tác viên từ ngày 18/8/2022 đến hết ngày 30/9/2023 tại Bưu cục B với chức năng, nhiệm vụ là nhân viên phát triển thị trường. Bị cáo có nhiệm vụ nhận hàng bàn giao trực tiếp từ nhân viên xử lý tại kho làm việc, tiếp nhận thông tin chuyến đi giao/trả trên ứng dụng “Tài xế giao hang nhanh” (App m) sau đó tiến hành đồng kiểm số lượng đơn hàng, tình trạng niêm phong hàng hóa với nhân viên xử lý. Ngày 20/9/2022, đã nhận đơn hàng từ anh Ngô Văn S là nhân viên xử lý của Bưu cục Bắc Giang để đi giao hàng. Tuy nhiên, bị cáo H đã không nộp tiền về công ty mà chiếm đoạt số tiền 22.904.048 đồng và số tiền nợ truy thu là 199.000 đồng. Tổng cộng là 23.103.048 đồng. Ngày 10/5/2024 bị cáo đã khắc phục toàn bộ số tiền cho công ty. Đại diện cho công ty ông đề nghị các cơ quan pháp luật giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có lời khai xác định:

Anh Ngô Văn S: Ông là nhân viên xử lý của Bưu cục B tại công ty. Từ ngày 18/9/2022 đến ngày 20/9/2022, anh đã giao cho bị cáo tổng số 51 đơn hàng để đi giao. Bị cáo phải về chi nhánh vào 19 giờ hàng ngày hoặc muộn nhất là sáng ngày hôm sau để trả lại đơn hàng đã giao quá ba lần nhưng không thành công và bàn giao tổng số tiền đã nhận từ khách (tiền COD, tiền cước) cho nhân viên xử lý đúng với số tiền hiển thị trên hệ thống và theo dõi việc mà nhân viên xử lý xác nhận đã thu tiền trên hệ thống tương ứng trên App m-PDS. Nhưng bị cáo không về bàn giao số tiền nhận. Công ty nhiều lần liên hệ với bị cáo H nhưng không liên lạc được. Buổi sáng ngày 21/9/2022, anh đến nhà bị cáo, nhưng bị cáo không có mặt ở nhà. Ông Nguyễn Anh T đã giao lại cho anh S toàn bộ 32 đơn hàng mà H chưa giao được.

Ông Nguyễn Anh T: Buổi sáng ngày 21/9/2022, anh Ngô Văn S đến nhà ông. Ông đã giao lại cho anh S toàn bộ 32 đơn hàng mà H chưa giao được.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất, nội dung hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về áp dụng điều luật và mức hình phạt:

Áp dụng khoản 1, 5, 6 Điều 353, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức H từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tham ô tài sản”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo cho UBND phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Phạt bổ sung: Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ về quản lý hàng hóa trong doanh nghiệp từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS 2015; Điều 23 Nghị Quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Quốc hội buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Phần tranh luận: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Căn cứ các chứng cứ tài liệu được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

  1. [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
  2. [2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:

    Đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, nhưng đã có lời khai, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  3. [3]. Về tội danh:

    Sau khi xem xét lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ cũng như tại phiên toà, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy: Nguyễn Đức H là nhân viên hợp đồng của Công ty Cổ phần D hàng nhanh có trách nhiệm giao hàng, thu tiền hàng của khách và nộp tiền cước, tiền COD về Bưu cục của Công ty theo quy định. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao từ ngày 18/9/2022 đến ngày 20/9/2022, H đã trực tiếp giao thành công 19 đơn hàng cho khách và thu được tổng số tiền là 22.904.048 đồng nhưng không nộp tiền về Công ty mà đã chiếm đoạt để chi tiêu hết.

    Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của công ty. Bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

    Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Tham ô tài sản” theo khoản 1 Điều 353 của Bộ luật hình sự.

    Tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Do đó, Cáo trạng số: 161/CT-VKS ngày 05/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đức H là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  1. [4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Xét đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ, mức hình phạt là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cần xem xét như sau:

    4.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

    Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự;

    4.2. Tình tiết giảm nhẹ:

    Sau khi tội phạm bị phát hiện, bị cáo đã bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện bị hại đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ để áp dụng cho bị cáo theo điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

    Qua đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do đó, không cần bắt cách ly xã hội, mà cần xử phạt tù, cho bị cáo hưởng án treo. Giao bị cáo cho UBND cấp xã, nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách, theo Điều 65 của Bộ luật hình sự.

  2. [5]. Về hình phạt bổ sung:

    Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 353 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, cần phạt bổ sung: Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ liên quan đến thu tiền và quản lý hàng.

  3. [6]. Về trách nhiệm dân sự:

    Công ty CP D giao hàng nhanh đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường, Hội đồng xét xử không xem xét.

  4. [7]. Về án phí:

    Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

  5. [8]. Về quyền kháng cáo:

    Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, để Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo.

    Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về áp dụng điều luật và mức hình phạt:

Áp dụng khoản 1, khoản 5, khoản 6 Điều 353, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự:

1.1. Hình phạt chính:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tham ô tài sản”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án.

1.2. Phạt bổ sung:

Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ về quản lý hàng hóa, tiền tệ trong doanh nghiệp 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Giao bị cáo Nguyễn Đức H cho UBND phường T, thành phố B giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Đức H thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Đức H cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Đức H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tp Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cơ quan CSĐT - CA tp Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp Bắc Giang;
  • - UBND phường Trần Nguyên Hãn, tp Bắc Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Trần Kiên

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Thị Huệ – Phạm Thị Hải Huyền

THẨM PHÁN -CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Trần Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 165A/2024/HS-ST. ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự (tội tham ô tài sản)

  • Số bản án: 165A/2024/HS-ST.
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Tham ô tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức Hùng Tham ô TS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger