|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 165/2024/HS-ST Ngày 21-6-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Đào Anh Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 21/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 161/2024/TLST-HS, ngày 06/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2024/QĐXXST-HS ngày 14/6/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Đình H; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 19 tháng 5 năm 1976, tại tỉnh Nghệ An.
Nơi thường trú: Tổ dân phố G, phường T, thành phố B; Chỗ ở hiện nay: Số D N, phường T, thành phố B.
Nghề nghiệp: Xây dựng; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đình T, sinh năm: 1947; Con bà: Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1949. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H2, sinh năm: 1976 và có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2004.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10 tháng 5 năm 2024 đến ngày 13 tháng 5 năm 2024, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Phạm Văn H3; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 18 tháng 9 năm 1987, tại tỉnh Đắk Lắk.
Nơi cư trú: Thôn F, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk;
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn C, sinh năm: 1962; Con bà: Hoàng Thị C1, sinh năm: 1962. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị P, sinh năm: 1989 và có 02 con, con lớn sinh năm: 2008, con nhỏ sinh năm: 2012.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày ngày 10 tháng 5 năm 2024 đến ngày 13 tháng 5 năm 2024, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
3./ Họ và tên: Trần Hoài N; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 15 tháng 01 năm 1985, tại tỉnh Đắk Lắk.
1
Nơi cư trú: Thôn A, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
Nghề nghiệp: Công chức; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Thái T1, sinh năm: 1957; Con bà: Trần Thị C2, sinh năm: 1958. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Xuân L, sinh năm: 1987 và có 02 con, con lớn sinh năm: 2008, con nhỏ sinh năm: 2013
Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10 tháng 5 năm 2024 đến ngày 13 tháng 5 năm 2024, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
4./ Họ và tên: Nguyễn Đình H4; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 15 tháng 7 năm 1987, tại tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường T, thành phố B;
Nghề nghiệp: Xây dựng; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đình T, sinh năm: 1947; Con bà: Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1949; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Lệ G, sinh năm: 1996; Bị cáo có 01 con, sinh năm: 2021.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10 tháng 5 năm 2024 đến ngày 13 tháng 5 năm 2024, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Nhân thân: Ngày 19/4/2017, bị Công an huyện B, tỉnh Bình Phước xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 59/QĐ-XPVPHC, về hành vi vận chuyển lâm sản trái quy định pháp luật theo quy định tại điểm e, khoản 1 Điều 22 Nghị định số 157/NĐ-CP, ngày 11/11/2017 quy định xử lý vi phạm hành chính về lâm sản, bị cáo đã chấp hành nộp phạt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1976 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số D N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Thanh H5, sinh năm 1984 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09 tháng 5 năm 2024, Trần Hoài N và Phạm Văn H3 đến nhà của Nguyễn Đình H, ở địa chỉ: 0 N, phường T, thành phố B, chơi và cùng nhau ăn uống. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, H, N, H3 rủ nhau đánh bạc hình thức chơi bài Phỏm thắng thua bằng tiền trong căn phòng ngủ của nhà bị cáo H. Tại đây, H, N, H3 ngồi trên 03 ghế nhựa ở giữa đặt 01 chiếc bàn bằng kim loại bên trên trải 01 chiếc chăn màu xanh đã gấp gọn và sử dụng 02 bộ bài Tây loại 52 chưa qua sử dụng làm công cụ đánh bạc. Các bị cáo thống nhất số tiền thắng thua trong 01 ván bài như sau: Người về nhất sẽ thắng tiền của 02 người chơi còn
2
lại, người về nhì thua 100.000 đồng, về thứ 3 thua 200.000 đồng, người bị “Cháy” bài (không có phỏm) thua 300.000 đồng, người “Ù” thường thắng mỗi người 400.000 đồng, “Ù” tròn thắng mỗi người 800.000 đồng, người có bài Tứ quý thì thắng mỗi người 400.000 đồng, Tứ quý “cá” thắng mỗi người 1.200.000 đồng. Nếu ai có lá bài “Cá” thì thắng mỗi người 100.000 đồng/01 lá bài, đánh không đậu chớn và không thu tiền xâu. Khi tham gia đánh bạc, H đem theo số tiền 9.800.000 đồng; H3 đem theo số tiền 10.000.000 đồng; N đem theo số tiền 4.500.000 đồng, đều dùng hết để đánh bạc. Các con bạc đánh bạc được khoảng 05 ván bài thì Nguyễn Đình H4 đến tham gia đánh bạc cùng. Lúc này, các con bạc thống nhất lại số tiền thắng thua trong 01 ván bài như sau: Người về nhất thắng tiền của 03 người chơi còn lại, người về nhì thua 100.000 đồng, người về thứ ba thua 200.000 đồng, người về chót thua 300.000 đồng, người bị “Cháy” bài thì thua 400.000 đồng, người “Ù” thường thì thắng mỗi người 500.000 đồng, người “Ù” tròn thì thắng mỗi người 1.000.000 đồng, người có bài Tứ quý thì thắng mỗi người 500.000 đồng, Tứ quý cá thì thắng mỗi người 1.300.000 đồng. Nếu ai có lá bài cá thì thắng mỗi người 100.000 đồng/01 lá bài, H4 đem theo số tiền 6.400.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc. Quá trình các con bạc đánh bạc thì có anh Nguyễn Thanh H5 (sinh năm 1984; trú tại: Thôn F, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk) đến ngồi ngoài xem. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi H, N, H4, H3 đang đánh bạc thì Đ Công an thành phố B phát hiện bắt quả tang, tạm giữ tại sòng bạc và trên người các bị cáo tổng số tiền 30.700.000 đồng đang sử dụng đánh bạc và các công cụ sử dụng để đánh bạc.
Đồ vật tài liệu bị tạm giữ.
Tạm giữ tại sòng bạc và trên người các con bạc tổng số tiền 30.700.000 đồng.
- 02 bộ bài Tây 52 lá đã qua sử dụng; 01 chiếc bàn kim loại; 01 chiếc chăn màu xanh; 04 ghế nhựa màu vàng.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 03/QĐ-VKS-TPBMT ngày 06/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đình H, Phạm Văn H3, Trần Hoài N, Nguyễn Đình H4 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, đúng theo nội dung Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố.
Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của các bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình H, Phạm Văn H3, Trần Hoài N, Nguyễn Đình H4 phạm tội “Đánh bạc”.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn H3 từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Xử phạt bị cáo Trần Hoài N từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H4 từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
3
- Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: Số tiền 30.700.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc (Trong đó: 10.200.000 đồng thu giữ tại sòng bạc; số tiền 5.200.000 đồng trên người của Nguyễn Đình H; 7.800.000 đồng của Phạm Văn H3, 1.500.000 đồng của Trần Hoài N, 6.000.000 đồng của Nguyễn Đình H4).
Truy thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 8.973.000 đồng từ bị cáo Nguyễn Đình H, là ½ giá trị khu vực căn phòng nơi các bị cáo đánh bạc.
Tịch thu tiêu huỷ: 02 bộ bài Tây 52 lá đã qua sử dụng; 01 chiếc bàn kim loại; 01 chiếc chăn màu xanh; 04 ghế nhựa màu vàng.
Các vấn đề khác đề nghị HĐXX chấp nhận như nội dung tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn.
Các bị cáo không tranh luận nội dung gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi của mình đã thực hiện. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ căn cứ kết luận: Vào ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại căn nhà ở địa chỉ: 0 N, phường T, thành phố B, các bị cáo Nguyễn Đình H, Phạm Văn H3, Trần Hoài N, Nguyễn Đình H4 đã thực hiện hành vi đánh bạc, hình thức đánh bài Phỏm được thua bằng tiền thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B phát hiện bắt quả tang, thu giữ tổng số tiền sử dụng đánh bạc một lần là 30.700.000 đồng (Trong đó: 10.200.000 đồng thu giữ tại sòng bạc; số tiền 5.200.000 đồng trên người của Nguyễn Đình H; 7.800.000 đồng của Phạm Văn H3, 1.500.000 đồng của Trần Hoài N, 6.000.000 đồng của Nguyễn Đình H4).
Do đó, Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Nguyễn Đình H, Phạm Văn H3, Trần Hoài N, Nguyễn Đình H4 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật. Cụ thể:
Điều 321 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị
4
phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
***
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh truy tố, mức hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo có đầy đủ năng lực và nhận thức để biết được rằng đánh bạc trái phép dưới mọi hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật là vi phạm pháp luật, là tệ nạn xã hội bị Nhà nước nghiêm cấm. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác, làm phát sinh nhiều mâu thuẫn trong gia đình và xã hội. Tuy nhiên, xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật, vì động cơ vụ lợi, muốn có tiền tiêu xài nhanh chóng từ việc thu lợi bất chính nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức bài Phỏm.
Trong vụ án này, các bị cáo Nguyễn Đình H, Phạm Văn H3, Trần Hoài N, Nguyễn Đình H4 cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, đồng phạm giản đơn mang tính bộc phát nhất thời, không phân công người canh gác, không thu tiền xâu. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần phân hóa theo mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo.
Xét về hành vi: Các bị cáo Nguyễn Đình H, Phạm Văn H3, Trần Hoài N là người khởi sướng và thực hành tích cực. Nguyễn Đình H sử dụng địa điểm thuộc sở hữu của mình, chuẩn bị công cụ đánh bạc. Phạm Văn H3 là người sử dụng nhiều tiền nhất để tham gia đánh bạc; Trần Hoài N sử dụng số tiền ít nhất để tham gia đánh bạc. Nguyễn Đình H4 đến sau tuy thấy các con bạc đang đánh bạc thì không ngăn cản mà cùng vào tham gia đánh bạc với các bị cáo còn lại.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Đình H4 có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Đình H, Phạm Văn H3, Trần Hoài N, Nguyễn Đình H4 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Đình H, Phạm Văn H3, Trần Hoài N, Nguyễn Đình H4 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những nhận định trên, HĐXX xét thấy:
Đối với bị cáo Trần Hoài N tham gia với số tiền ít nhất trong vụ án này nên mức hình phạt của bị cáo N thấp hơn so với các bị cáo còn lại. Bị cáo Nguyễn Đình H là người khởi sướng, thực hành tích cực, chuẩn bị công cụ đánh bạc, địa điểm thuộc sở hữu của mình để các bị cáo cùng nhau đánh bạc.
Xét thấy, tại thời điểm phạm tội các bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, điều này thể hiện các bị cáo có khả năng tự cải tạo, nên không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự, áp dụng hình phạt phạt tiền
5
trên mức khởi điểm của khung hình phạt đối với các bị cáo cũng là đủ răn đe và việc không bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù sẽ không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm; tạo điều kiện cho các bị cáo được cải tạo, sửa đổi, học tập, trở thành một công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội và nhằm thể hiện sự khoan hồng và nhân đạo của Pháp luật Nhà nước ta, đồng thời xử phạt tiền sẽ đảm bảo được việc thu nộp ngân sách của nhà nước.
[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: Số tiền 30.700.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc (Trong đó: 10.200.000 đồng thu giữ tại sòng bạc; số tiền 5.200.000 đồng trên người của Nguyễn Đình H; 7.800.000 đồng của Phạm Văn H3, 1.500.000 đồng của Trần Hoài N, 6.000.000 đồng của Nguyễn Đình H4).
Truy thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 8.973.000 đồng từ bị cáo Nguyễn Đình H, là ½ giá trị khu vực căn phòng nơi các bị cáo đánh bạc.
Tịch thu tiêu huỷ: 02 bộ bài Tây 52 lá đã qua sử dụng; 01 chiếc bàn kim loại; 01 chiếc chăn màu xanh; 04 ghế nhựa màu vàng.
[5] Các vấn đề khác:
Đối với địa điểm đánh bạc là phòng ngủ tầng trệt, ở địa chỉ: 0 N, phường T, thành phố B. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản chung của bị cáo H và vợ là bà Nguyễn Thị H2. Việc bị cáo H sử dụng căn phòng của căn nhà trên làm địa điểm đánh bạc thì bà H2 không biết. Đối với anh Nguyễn Thanh H5 là người có mặt tại nơi đánh bạc nhưng chỉ ngồi xem các con bạc đánh bạc chứ không tham gia đánh bạc. Nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với bà H2 và anh H5 là phù hợp.
[6] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Đình H, Phạm Văn H3, Trần Hoài N, Nguyễn Đình H4 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình H, Phạm Văn H3, Trần Hoài N, Nguyễn Đình H4 phạm tội “Đánh bạc”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng)
Xử phạt bị cáo Phạm Văn H3 35.000.000đ (Ba mươi lăm triệu đồng)
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H4 35.000.000đ (Ba mươi lăm triệu đồng)
Xử phạt bị cáo Trần Hoài N 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng)
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Truy thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 8.973.000 đồng từ bị cáo Nguyễn Đình H, là ½ giá trị khu vực căn phòng nơi các bị cáo đánh bạc.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: Số tiền 30.700.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc (Trong đó: 10.200.000 đồng thu giữ tại sòng bạc; số tiền 5.200.000 đồng trên người của Nguyễn Đình H; 7.800.000 đồng của Phạm Văn H3, 1.500.000 đồng của Trần Hoài N, 6.000.000 đồng của Nguyễn Đình H4).
Tịch thu tiêu huỷ: 02 bộ bài Tây 52 lá đã qua sử dụng; 01 chiếc bàn bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 chiếc chăn màu xanh, đã qua sử dụng; 04 ghế nhựa màu vàng, đã qua sử dụng.
(Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/6/2024 giữa Công an thành phố B với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột)
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc các bị cáo Nguyễn Đình H, Phạm Văn H3, Trần Hoài N, Nguyễn Đình H4, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Loan |
7
8
Bản án số 165/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 165/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình H + Đồng phạm phạm tội Đánh bạc
