|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 165/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23-01-2025
V/v ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hợi
Các Hội thẩm nhân dân.
1/ Ông Trần Đăng Vạn
2/ Ông Mai Thanh Giàu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Võ Hồng D – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 2291/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, giữa đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Kim P, sinh năm 1978.
Địa chỉ: số D Đường A, khu phố H, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Phạm Hoàng A, sinh năm 1976.
Địa chỉ: số D Đường A, khu phố H, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ghi ngày 16/9/2024, Biên bản lấy lời khai ngày 01/11/2024, trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim P trình bày: Bà và ông Phạm Hoàng A tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2001, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 73 quyển số 01/2001 do Ủy ban nhân dân phường B, Quận B (nay là Ủy ban
2
nhân dân phường B, thành phố T) Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/9/2001. Sau khi kết hôn, bà và ông A chung sống hạnh phúc từ năm 2001 đến năm 2017, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn: vợ chồng thường xuyên cãi vã. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông A không chịu làm ăn, không chăm lo cho gia đình, thường xuyên chơi cá độ, cờ bạc gây nợ nần nhiều lần. Bà đã khuyên bảo nhiều lần nhưng ông A không thay đổi. Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà và ông A ngày càng trầm trọng, tuy còn sống chung nhưng không ai quan tâm, hỏi han gì đến nhau. Bà xác định bà không còn tình cảm vợ chồng và không thể tiếp tục chung sống vợ chồng với ông A được nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Hoàng A.
Về con chung: Bà và ông A có 01 con chung là Phạm Trung H, sinh ngày 20/7/2004. Con chung đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà và ông A không có tài sản chung và nợ chung.
Bị đơn ông Phạm Hoàng A đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ 2 nhưng ông A vẫn vắng mặt, không có lời khai, và không cung cấp tài liệu chứng cứ.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán:
- - Về xác định quan hệ tranh chấp: Bà P, ông A tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 18/9/2001 tại Ủy ban nhân dân phường B, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm nên phát sinh mâu thuẫn, đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành. Bà P xác định không còn tình cảm vợ chồng và làm đơn gửi Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức yêu cầu ly hôn với ông A. Do đó khi thụ lý Thẩm phán căn cứ khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn” là có cơ sở.
- - Về thụ lý và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có địa chỉ cư trú tại thành phố T do đó căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thụ lý giải quyết là đúng qui định của pháp luật.
- - Về xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự: Đúng qui định tại Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Về xác minh thu thập, giao nộp chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đúng qui định tại các điều 93, 94, 95, 96, 97, 208, 209, 210, 211 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Ngày 17/10/2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thụ lý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngày 12/12/2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng qui định tại Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
3
- - Về thủ tục cấp tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự và viện kiểm sát đúng qui định của pháp luật.
- + Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện đúng và đầu đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ theo qui định tại Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- + Về việc giải quyết vụ án: Sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Kim P, cụ thể:
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Huỳnh Thị Kim P được ly hôn với ông Phạm Hoàng A;
- - Về con chung: Có 01 con chung đã trưởng thành.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
- - Án phí sơ thẩm: Bà P phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến tranh luận của đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim P khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Phạm Hoàng A; ông A hiện đang cư trú tại địa chỉ số D Đường A, khu phố H, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, căn cứ Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đây là vụ án tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo thủ tục sơ thẩm.
[2] Về việc tham gia tố tụng của các đương sự:
Nguyên đơn bà P tham gia và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Bị đơn ông A đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông A.
Đương sự không yêu cầu triệu tập thêm người tham gia tố tụng khác, người làm chứng nên Hội đồng xét xử không triệu tập người tham gia tố tụng khác, người làm chứng.
[3] Về chứng cứ của vụ án: Tòa án đã đảm bảo việc công khai các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án theo quy định tại các điều 208, 209, 210, 211 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đương sự không bổ sung tài liệu chứng cứ
4
khác và tại phiên tòa, đương sự cũng không bổ sung thêm tài liệu chứng cứ nào khác.
[4] Về yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
[4.1] Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 73 quyển số 01/2001 do Ủy ban nhân dân phường B, Quận B (nay là Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T) Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/9/2001, quan hệ hôn nhân giữa bà P, ông A là hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bà P đều xác định: Từ năm 2018 đến nay giữa bà và ông A phát sinh mâu thuẫn trầm trọng: vợ chồng thường xuyên cãi vã, gây gổ. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông A cờ bạc, cá độ gây nợ nần nhiều lần. Tuy là vợ chồng, sống chung nhà nhưng giữa hai bên không có sự quan tâm, chia sẻ với nhau. Bà không còn tình cảm vợ chồng và không thể tiếp tục chung sống vợ chồng với ông A.
Bị đơn ông Phạm Hoàng A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông A không đến Tòa án để tham gia tố tụng, tham gia phiên tòa. Điều này cho thấy, ông A không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, chưa thực sự coi trọng tình nghĩa vợ chồng.
Mặt khác, ông A cũng không cung cấp cho Tòa án bất kỳ tài liệu chứng cứ nào thể hiện tình trạng mâu thuẫn vợ chồng mà bà P trình bày là không đúng. Do đó có cơ sở xác định trong quá trình chung sống vợ chồng giữa bà P, ông A có phát sinh mâu thuẫn, mức độ mâu thuẫn các bên không dung hòa được mà càng kéo dài càng trầm trọng. Tuy là vợ chồng nhưng giữa bà P, ông A không còn sự thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ và thực hiện các công việc trong gia đình nên tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà P yêu cầu được ly hôn với ông A là có cơ sở chấp nhận.
[4.2] Về con chung: Căn cứ lời khai của đương sự phù hợp với nội dung Giấy khai sinh số 141 Quyển số 01/2004 do Ủy ban nhân dân phường B, Quận B (nay là Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 10/8/2004, có cơ sở xác định bà P, ông A có 01 con chung tên Phạm Trung H, sinh ngày 20/7/2004. Tính đến thời điểm xét xử con chung của bà P, ông A đã 21 tuổi - đã trưởng thành; bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà P xác định không có.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
5
án; Điểm 1.1 Mục II Phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 nguyên đơn bà P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm 1.1 Mục II Phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
-
Về hôn nhân: Cho bà Huỳnh Thị Kim P ly hôn ông Phạm Hoàng A.
Giấy chứng nhận kết hôn số 73 quyển số 01/2001 do Ủy ban nhân dân phường B, Quận B (nay là Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T) Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/9/2001 cho bà Huỳnh Thị Kim P, ông Phạm Hoàng A không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Phạm Trung H, sinh ngày 20/7/2004. Con chung đã trưởng thành.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà P xác định không có.
- Về án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn: 300.000 đồng, bà Huỳnh Thị Kim P phải chịu, được cấn trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí bà P đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0044152 ngày 15/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà P đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi bổ sung năm 2014).
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
6
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hợi |
Bản án số 165/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 165/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà P yêu cầu ly hôn ông A
