|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. HẢI CHÂU – TP. ĐÀ NẴNG Bản án số:165/2024/HS-ST Ngày: 28/11/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Cúc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Công Tâm
Ông Nguyễn Xuân Tùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kim Tâm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 133/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2024/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
- NGUYỄN HỒNG H, tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 03/8/2003, tại thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Nơi ĐKHKTT: Tổ D, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: Phòng trọ số C, thuộc nhà trọ số C đường N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam. Trình độ học vấn: 08/12; Con ông Nguyễn Hồng H1 (s) và bà Huỳnh Thị Kim T (s). Gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ 01.
Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2022/HS-ST ngày 08/9/2022 của TAND quận Ngũ Hành Sơn và Bản án hình sự phúc thẩm số 149/2022/HS-PT ngày 06/12/2022 của TAND thành phố Đà Nẵng xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 BLHS (chấp hành xong ngày 03/8/2023).
Tiền sự: Chưa
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 28/5/2023. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 26/5/2024, Nguyễn Hồng H được V (không rõ lai lịch, bạn ngoài xã hội của H) liên lạc qua T1 nhờ nhận và cất giữ giúp ma tuý cho V; H đồng ý và theo hướng dẫn của V đi đến một gốc cây (không rõ địa chỉ cụ thể) trên đường L, thành phố Đà Nẵng lấy 02 hộp giấy chứa ma túy rồi đem về cất giấu trong Phòng trọ số 03, nhà trọ số C đường N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.
Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 28/5/2024, V liên lạc qua T1 nói H lấy trong số ma túy nêu trên 02 viên ma túy thuốc lắc và 01 chỉ ma tuý Ketamine đem đến quán bar T4 (đường B T, quận T) để sử dụng cùng V, H đồng ý.
Đến lúc 21 giờ ngày 28/5/2024, khi H điều khiển xe mô tô biển số 43D1-529.99 đi đến khu vực gần quán bar T4, trên đường B T, quận H, thành phố Đà Nẵng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ ma tuý trong túi quần phía trước bên phải của H.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 gói nilong kích thước (8x3) cm bên trong có 02 viên nắn hình tròn màu vàng nhạt, 01 một gói nilong kích thước khoảng (2 x 2,5) cm chứa chất tinh thể màu trắng (niêm phong, ký hiệu: QT).
- - 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade, biển số 43D1- 529.99, số máy: JF63E1374045, số khung: RLHJF630XFZ374010; của H.
- - 01 căn cước công dân tên Nguyễn Hồng H.
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 356856117386875, gắn sim 0796.769.616; của H dùng liên lạc với V về ma tuý.
- - 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 018074.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Hồng H tại phòng trọ số 03, nhà trọ số C đường N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ phát hiện số ma tuý còn lại H đang cất giấu trên nền nhà, thu giữ:
- - 01 gói nilong chứa 35 viên nén màu vàng nhạt, 01 gói nilong bên trong chứa 10 viên nén màu đỏ, 11 gói nilong bên trong mỗi gói chứa tinh thể rắn màu trắng (trong 01 hộp giấy, niêm phong, ký hiệu: KX1).
- - 05 gói nilong màu đỏ bên ngoài có dòng chữ “Ferrari”, 01 gói nilong màu xanh bên ngoài có dòng chữ "CRISPY FRUIT" (trong 01 hộp giấy, niêm phong, ký hiệu: KX2).
Xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể, H dương tính.
Tại Kết luận giám định số 430/KL-KTHS ngày 04/6/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ, kết luận:
- - Viên nén màu vàng ký hiệu QTI; KXla gửi giám định đều là ma túy loại MDMA; khối lượng mẫu QT1: 0,839 gam; mẫu KX1a: 14,874 gam.
- - Viên nén màu đỏ ký hiệu KX1b gửi giám định đều là ma túy loại Methamphetamine; khối lượng mẫu KX1b: 0,952 gam.
- - Tinh thể rắn màu trắng ký hiệu QT2, KX1c gửi giám định là ma túy, loại Ketamine; khối lượng mẫu QT2: 0,508 gam; mẫu KX1c: 15,791 gam.
- - Chất bột màu cam ký hiệu KX2a và KX2b gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine và N; khối lượng mẫu KX2a: 17,868 gam; mẫu KX2b: 3,753 gam.
Tại Kết luận giám định số 1249/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận:
- - Chất bột màu cam ký hiệu KX2a gửi giám định có hàm lượng từng chất ma túy như sau: Methamphetamine là 0,1%; MDMA là 2,7%; Ketamine là 8,8%; Nimetazepam là 0,2%.
- - Chất bột màu cam ký hiệu KX2b gửi giám định có hàm lượng từng chất ma túy như sau: Methamphetamine là 0,1%; MDMA là 2,4%; Ketamine là 3,2%; Nimetazepam là 0,1%.
Khối lượng quy đổi của từng chất ma túy trong các mẫu KX2a: 17,868 gam; KX2b: 3,753 gam sau giám định bổ sung hàm lượng lần lượt: Methamphetamine: 0,021 gam; MDMA: 0,572 gam; Ketamine: 1,692 gam; Nimetazepam: 0,039 gam.
Như vậy, tổng khối lượng từng chất ma túy H tàng trữ lần lượt là: Methamphetamine: 0,973 gam; MDMA: 16,285 gam; Ketamine: 17,991 gam; Nimetazepam: 0,039 gam.
Căn cứ khoản 3 Điều 5 Chương II Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ, tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của 04 chất ma tuý (Methamphetamine, MDMA, Ketamine và N) so với mức tối thiểu đối với từng chất đó được quy định tại khoản 3 Điều 249 BLHS: [(16,285 + 0,973)/30] + (18,03/100) = 57,527% + 18,03% = 75,557% (<100%). Do đó, tổng khối lượng 04 chất ma tuý (Methamphetamine, MDMA, Ketamine và N) Nguyễn Hồng H tàng trữ trái phép thuộc khoản 2 Điều 249 BLHS.
-Về xử lý vật chứng:
Toàn bộ vật chứng và ma túy còn lại sau giám định được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu bảo quản trong giai đoạn xét xử và thi hành án.
Tại bản Cáo trạng số 131/CT-VKS ngày 15/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn Hồng H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định theo điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị HĐXX căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và:
Áp dụng: Điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng H mức án từ 7 (bảy) năm đến 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù.
[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý các vật chứng trong vụ án, cụ thể như sau:
* Đề nghị HĐXX:
- - Tịch thu, tiêu hủy: Đối với ma túy hoàn trả sau giám định gồm: Toàn bộ vật chứng và ma túy còn lại sau giám định theo kết luận giám định số 1249/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu.
- - Trả lại cho Nguyễn Hồng H 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade, biển số 43D1- 529.99, số máy: JF63E1374045, số khung: RLHJF630XFZ374010 là tài sản riêng của H không liên quan đến việc phạm tội nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Trả lại cho Nguyễn Hồng H các giấy tờ tùy thân sau: 01 căn cước công dân tên Nguyễn Hồng H, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 018074
- - Tịch thu, nộp vào Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 356856117386875, gắn sim 0796.769.616; của H dùng liên lạc với V về ma tuý.
(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hồng H cũng đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, rất ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát quận H, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
- [2] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Hồng H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 28/5/2024, tại khu vực gần quán bar T4, đường 2 Tháng 9 và phòng trọ số 03, nhà trọ số C đường N, phường H (thuộc địa bàn quận H, thành phố Đà Nẵng), Nguyễn Hồng H có hành vi tàng trữ trái phép 16,285 gam ma túy loại MDMA, 0,973 gam ma túy loại Methamphetamine, 17,991 gam ma tuý loại Ketamine và 0,039 gam ma tuý loại Nimetazepam để sử dụng.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định theo điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- [3] Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:
Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội nên đối với bị cáo cần phải xử phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung.
- [4] Xét về những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo thì thấy:
- - Về tình tiết tăng nặng: Tái phạm, theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, theo định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Hành vì sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Hồng H, Công an quận H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
- - Đối với bà Trần Thị T2 (sinh năm: 1964; NKTT: K đường C, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng):
Bà T2 cho H thuê Phòng trọ số 03, nhà trọ số C đường N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng để làm nơi ở, không biết, không giúp sức H phạm tội, Cơ quan CSĐT Công an quận H không đề cập xử lý là có căn cứ.
Bà T2 không đăng ký thành lập hộ kinh doanh và doanh nghiệp liên quan đến lĩnh vực cho thuê phòng trọ, Công an quận H đã chuyển UBND quận H xử lý theo chức năng và thẩm quyền là có căn cứ.
- Đối với V là người nhờ H nhận và giữ giúp ma tuý, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an quận H tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.
- [6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý các vật chứng trong vụ án, cụ thể như sau:
- - Tịch thu, tiêu hủy: Đối với ma túy hoàn trả sau giám định gồm: Toàn bộ vật chứng và ma túy còn lại sau giám định theo kết luận giám định số 1249/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu.
- - Trả lại cho Nguyễn Hồng H 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade, biển số 43D1- 529.99, số máy: JF63E1374045, số khung: RLHJF630XFZ374010 là tài sản riêng của H không liên quan đến việc phạm tội nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Trả lại cho Nguyễn Hồng H các giấy tờ tùy thân sau: 01 căn cước công dân tên Nguyễn Hồng H, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 018074
- - Tịch thu, nộp vào Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 356856117386875, gắn sim 0796.769.616; của H dùng liên lạc với V về ma tuý.
(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu).
- [7] Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ vào Điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- - Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hồng H 7 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 tháng 5 năm 2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý các vật chứng trong vụ án, cụ thể như sau:
- - Tịch thu, tiêu hủy: Đối với ma túy hoàn trả sau giám định gồm: Toàn bộ vật chứng và ma túy còn lại sau giám định theo kết luận giám định số 1249/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu.
- - Trả lại cho Nguyễn Hồng H 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade, biển số 43D1- 529.99, số máy: JF63E1374045, số khung: RLHJF630XFZ374010 là tài sản riêng của H không liên quan đến việc phạm tội nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Trả lại cho Nguyễn Hồng H các giấy tờ tùy thân sau: 01 căn cước công dân tên Nguyễn Hồng H, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 018074
- - Tịch thu, nộp vào Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 356856117386875, gắn sim 0796.769.616; của H dùng liên lạc với V về ma tuý.
(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu).
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hồng H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 28/11/2024). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Minh C |
Bản án số 165/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP ĐÀ NẴNG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 165/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
