Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

Bản án số: 165/2024/HS-ST

Ngày: 21-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Linh Duy

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Chí Lin – Cán bộ hưu trí;
  • Bà Trần Thị Đổi – Cán bộ hưu trí;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hồng Diễm - Kiểm sát viên;

Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 161/2024/HSST ngày 21 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Thị T, sinh ngày 28/02/1996.

    Nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: thu mua phế liệu; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1970 (sống) và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1972 (sống); Họ và tên chồng: Nguyễn Đình T2, sinh năm 1994; Con: có 03 con lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh ngày 16/6/2024; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt.

  2. Họ và tên: Nguyễn Đình T2, sinh ngày 20/3/1994.

    Nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: thu mua phế liệu; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình T3, sinh năm 1953 (chết) và bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1953 (sống); H và tên vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1996; Con: có 03 con lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh ngày 16/6/2024; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt.

  3. Họ và tên: Quách Văn N, sinh ngày 06/4/1995.

    Nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Quách Văn T5, sinh năm 1956 (sống) và bà Quách Thị B, sinh năm 1969 (sống); H và tên vợ: Quách Thị G, sinh năm 1998; Con: có 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt.

  4. Họ và tên: Quách Văn C1, sinh ngày 14/3/2000.

    Nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Quách Văn T5, sinh năm 1956 (sống) và bà Quách Thị B, sinh năm 1969 (sống); Bản thân không có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt

- Bị hại: Công ty TNHH C3.

Trụ sở: Ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Kuo H1 lan

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Dương Thị Kim C2, sinh năm 1990. Địa chỉ: B, Ô, khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An. (có đề nghị vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. 1. Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1986. (có mặt)
  2. Địa chỉ: Số F, tổ C, ấp F, xã P, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh.

  3. 2. Ông Trần Quang N1. sinh năm 1995. (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 20/6/2023, ông Trần Quang N1 là nhân viên Công ty trách nhiệm hữu hạn C3, địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An điện thoại kêu Nguyễn Thị T đến thu mua phế liệu (giấy carto). Nguyễn Thị T đồng ý và cùng với Nguyễn Đình T2 (chồng T), Quách Văn N và Quách Văn C1 (là người làm thuê cho T) cùng đi đến Công ty trách nhiệm hữu hạn C3 để thu mua phế liệu (giấy carto). Khi đi, T2 điều khiển xe ô tô tải biển số 62C-177.92 chở N và C1; T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số 62P1-397.23 cùng đi đến Công ty trách nhiệm hữu hạn C3. Trong lúc chất phế liệu (giấy) lên xe ô tô tải biển số 62C-177.92, T nhìn thấy có 12 bao nhôm phế liệu (mạc nhôm) và nhôm phế liệu dạng hình tròn có ngạnh để gần khu vực để giấy phế liệu nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt số nhôm phế liệu này. Lúc này, T kêu T2 lén lút chiếm đoạt số nhôm phế liệu đem bán lấy tiền tiêu xài, T2 đồng ý, T lấy 04 thùng giấy carto và lấy nhôm phế liệu bỏ vào thùng rồi lấy băng keo dán kín 04 thùng giấy chứa nhôm phế liệu này lại. Sau đó, T kêu Năm, C1 cùng T và T2 chất 21 bao nhôm phế liệu (mạc nhôm) và 04 thùng giấy carto bên trong chứa nhôm phế liệu lên xe ô tô tải biển số 62C-177.92 để chở đi bán. Khi cả nhóm vừa chất xong số nhôm phế liệu lên xe ô tô tải biển số 62C-177.92 thì Dương Thị Kim C2 là người quản lý của Công ty trách nhiệm hữu hạn C3 phát hiện nên trình báo sự việc đến Cơ quan Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số 62P1-397.23, số máy: 55P1464417, số khung: 5P10EY464396; 01 xe ô tô tải nhãn hiệu Mitsubishi, loại CANTER, màu trắng, biển số 62C-177.92, số máy: 4D34M34328, số khung: RLAFE85PG91000066; 21 bao tải chứa nhôm phế liệu có tổng trọng lượng 680 kg; 04 thùng giấy carto bên chứa nhôm phế liệu dạng hình tròn có ngạnh có tổng trọng lượng 129 kg.

Tại Kết luận định giá tài sản số 104/KL-HĐĐGTS ngày 15/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: 21 bao nhôm phế liệu có tổng trọng lượng 680kg, trị giá 6.800.000 đồng; 04 thùng giấy carton có chứa nhôm phế liệu dạng hình tròn có ngạnh có tổng trọng lượng là 129kg, trị giá 3.870.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 10.670.000 đồng”.

Tại bản cáo trạng số 154/CT-VKSĐH ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố Nguyễn Thị T, Nguyễn Đình T2, Quách Văn C1, Quách Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;

Kiểm sát viên sau khi phân tích, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Đình T2, Quách Văn C1, Quách Văn N gây ra; căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Đình T2, Quách Văn C1, Quách Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 09 tháng đến 01 năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng đến 02 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T2 09 tháng đến 01 năm tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng đến 02 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Quách Văn C1 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 năm đến 01 năm 06 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Quách Văn N 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 01 năm đến 01 năm 06 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và điểm a, khoản 3 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự.

Đối với 21 bao tải chứa nhôm phế liệu có tổng trọng lượng 680 kg và 04 thùng giấy carto bên trong chứa nhôm phế liệu dạng hình tròn có ngạnh có tổng trọng lượng 129 kg là tài sản hợp pháp của Công ty trách nhiệm hữu hạn C3 nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho người đại diện theo ủy quyền của Công ty là bà Dương Thị Kim C2 nên không đề cập.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, số máy: 55P1464417, số khung: 5P10EY464396, biển số 62P1-397.23 là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị H2 cho vợ chồng Nguyễn Thị T và Nguyễn Đình T2 ( em ruột) sử dụng nhưng không biết T2, T dùng làm phương tiện thực hiện tội phạm nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà H2 là phù hợp nên không đề cập giải quyết.

Đối với xe ô tô tải nhãn hiệu Mitsubishi, loại CANTER, số máy: 4D34M34328, số khung: RLAFE85PG91000066, màu trắng, biển số 62C-177.92 là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị H2 cho vợ chồng Nguyễn Thị T và Nguyễn Đình T2 (em ruột) sử dụng nhưng không biết T2, T dùng làm phương tiện thực hiện tội phạm nên đề nghị trả xe ô tô lại cho bà H2.

Đối với ông Trần Quang N1 là nhân viên Công ty trách nhiệm hữu hạn C3 có kêu Nguyễn Thị T đến thu mua phế liệu (giấy carto). Việc bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Đình T2, Quách Văn C1, Quách Văn N tự lén lút chiếm đoạt tài sản của ông Công ty, ông N1 không tham gia bàn bạc, không biết hành vi này của các bị cáo đã thực hiện nên ông N1 không đồng phạm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các chứng cứ đã thu thập là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Tại phiên tòa, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông N1) vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra và việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.

[2]. Đánh giá chứng cứ của Hội đồng xét xử:

[2.1]. Hành vi khách quan của các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Đình T2, Quách Văn C1, Quách Văn N đã thực hiện:

Khoảng 09 giờ ngày 20/6/2023, Nguyễn Thị T cùng chồng là Nguyễn Đình T2 (chồng T), Quách Văn N và Quách Văn C1 (em N) cùng đi đến Công ty trách nhiệm hữu hạn C3 để thu mua giấy phế liệu. Khi đi, T2 điều khiển xe ô tô tải biển số 62C-177.92 chở N và C1; T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số 62P1-397.23 đến Công ty trách nhiệm hữu hạn C3. Trong lúc chất phế liệu, T nhìn thấy có 12 bao nhôm phế liệu (mạc nhôm) và nhôm phế liệu dạng hình tròn có ngạnh để gần khu vực để giấy phế liệu nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt số nhôm phế liệu nêu trên và được T2 đồng ý. T lấy 04 thùng giấy carton và lấy nhôm phế liệu bỏ vào thùng rồi lấy băng keo dán kín lại. Sau đó, T kêu Năm, C1 cùng T và T2 đến chất 21 bao nhôm phế liệu (mạc nhôm) và 04 thùng giấy carto bên trong chứa nhôm phế liệu lên xe ô tô tải biển số 62C-177.92 để chở đi bán. Khi cả nhóm vừa chất xong số nhôm phế liệu lên xe ô tô tải biển số 62C-177.92 thì Dương Thị Kim C2 phát hiện trình báo sự việc đến Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An đề nghị xử lý theo quy định pháp luật. Tổng giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt là 10.670.000 đồng.

Xét lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Đình T2, Quách Văn C1, Quách Văn N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp lời trình bày của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm bị cáo thực hiện hành vi lấy trộm, đúng về đặc điểm tài sản bị mất trộm, phù hợp với các chứng cứ khách quan khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa và phù hợp nội dung cáo trạng.

[2.2]. Nhận định của Hội đồng xét xử:

Có căn cứ xác định hành vi của Nguyễn Thị T, Nguyễn Đình T2, Quách Văn C1, Quách Văn N là nguy hiểm cho xã hội, vì động cơ, mục đích muốn có tiền để tiêu xài nên lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu các bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản. Các bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nhưng các bị cáo vẫn bất chấp thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương. Tài sản các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Đình T2, Quách Văn C1, Quách Văn N chiếm đoạt của Công ty trách nhiệm hữu hạn C3 là 21 bao nhôm phế liệu (mạc nhôm) và 04 thùng giấy carto bên trong chứa nhôm phế liệu với giá trị là 10.670.000 đồng.

Từ đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Đình T2, Quách Văn C1, Quách Văn N đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Có cơ sở xác định Cáo trạng số 154/CT-VKSĐH ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Đình T2, Quách Văn C1, Quách Văn N theo tội danh, Điều luật trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Xét vụ án có đồng phạm nhưng giản đơn, không có sự phân công vai trò cụ thể của từng bị cáo nên khi quyết định hình phạt có xem xét vai trò của từng bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi của từng bị cáo gây ra.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Đình T2 là người làm chủ, đã đề xướng yêu cầu các bị cáo Quách Văn N, Quách Văn C1 cùng thực hiện hành vi trộm tài sản nên cần có mức án nghiêm khắc hơn bị cáo N và C1.

Đối với bị cáo Quách Văn N, Quách Văn C1 là người làm công có nhiệm vụ khuân vác hàng thuê, thực hiện hành vi theo yêu cầu chỉ đạo của bị cáo T và T2 nên cần xem xét mức án nhẹ hơn bị cáo T và T2.

[4]. Đánh giá về tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

  • - Về tình tiết định khung: Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Đình T2, Quách Văn C1, Quách Văn N không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên bị xét xử theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
  • - Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Đình T2, Quách Văn C1, Quách Văn N không bị áp dụng tình tiết tăng nặng khác tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ:

Bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Đình T2 có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo và có ý thức ăn năn, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đang nuôi 03 con nhỏ, gia cảnh khó khăn là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Các bị cáo Quách Văn C1, Quách Văn N có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo và có ý thức ăn năn, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Từ đó, xét các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Đình T2, Quách Văn C1, Quách Văn N có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tài sản thiệt hại không lớn, do đó việc áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương đối với bị cáo cũng có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

Từ đó, xét quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với các bị cáo là phù hợp nên ghi nhận.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[6]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và điểm a, khoản 3 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự.

Đối với 21 bao tải chứa nhôm phế liệu có tổng trọng lượng 680 kg và 04 thùng giấy carto bên trong chứa nhôm phế liệu dạng hình tròn có ngạnh có tổng trọng lượng 129 kg là tài sản hợp pháp của Công ty trách nhiệm hữu hạn C3 nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho người đại diện theo ủy quyền của Công ty là bà Dương Thị Kim C2 là phù hợp nên không đề cập xem xét giải quyết .

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, số máy: 55P1464417, số khung: 5P10EY464396, biển số 62P1-397.23 là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị H2 cho vợ chồng bị cáo Nguyễn Thị T và Nguyễn Đình T2 sử dụng nhưng không biết T2, T dùng làm phương tiện thực hiện tội phạm nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà H2 là phù hợp nên không đề cập xem xét giải quyết .

Đối với xe ô tô tải nhãn hiệu Mitsubishi, loại CANTER, số máy: 4D34M34328, số khung: RLAFE85PG91000066, màu trắng, biển số 62C-177.92 là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị H2 cho vợ chồng Nguyễn Thị T và Nguyễn Đình T2 (là em ruột) mượn sử dụng kinh doanh nhưng không biết T2, T dùng làm phương tiện thực hiện tội phạm cần trả xe ô tô lại cho bà H2 .

Đối với ông Trần Quang N1 là nhân viên Công ty trách nhiệm hữu hạn C3 có kêu Nguyễn Thị T đến thu mua phế liệu (giấy carto). Việc bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Đình T2, Quách Văn C1, Quách Văn N tự lén lút chiếm đoạt tài sản của ông Công ty, ông N1 không tham gia bàn bạc, không biết hành vi của các bị cáo đã thực hiện nên ông N1 không đồng phạm.

[7]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ Luật Tố tụng hình sự; Áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/YBTVQH14 ngày 30/`12/2016quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Đình T2, Quách Văn C1, Quách Văn N mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Đình T2, Quách Văn C1, Quách Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:
    1. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Áp dụng Điều 2, Điều 4, Điều 6 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ- ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án.

    2. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Áp dụng Điều 2, Điều 4, Điều 6 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ- ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T2 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án.

    3. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Áp dụng Điều 2, Điều 4, Điều 6 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ- ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

      Xử phạt bị cáo Quách Văn N 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án.

    4. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Áp dụng Điều 2, Điều 4, Điều 6 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ- ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

      Xử phạt bị cáo Quách Văn C1 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Đình T2 về Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Long An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Đình T2 có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Giao bị cáo Quách Văn C1, Quách Văn N về Ủy ban nhân dân xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Bị cáo Quách Văn C1, Quách Văn N có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trường hợp các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Đình T2, Quách Văn C1, Quách Văn N thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và điểm a, khoản 3 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự.

    Trả lại cho bà Nguyễn Thị H2 xe ô tô tải nhãn hiệu Mitsubishi, loại CANTER, số máy: 4D34M34328, số khung: RLAFE85PG91000066, màu trắng, biển số 62C-177.92.

    (Tang vật trên hiện đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa).

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ Luật Tố tụng hình sự.

    Buộc các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Đình T2, Quách Văn C1, Quách Văn N mỗi bị cáo nộp số tiền 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách nhà nước.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các điều 6, 7 và 9 Luật 30 Luật thi hành án dân sự”.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

NGUYỄN KHẮC LINH DUY

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 165/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 165/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Thị T và đồng phạm, phạm tội “Trộm cắp tài sản” khoản 1 Điều 173 (treo)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger