Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH QUÁN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:165/2024/HSST

Ngày: 18-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Liệu và ông Hoàng Luật.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Quang Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phước - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2024 tại Phòng xét xử B – Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai, hình thức xét xử trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 193/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 tại các điểm cầu:

  1. Điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện Đ gồm có:

    1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1981, tại Tiền Giang (có mặt)

      Nơi cư trú: ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp:không; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc:kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo:không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn P (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1951; anh chị em ruột 06 người, bị cáo là con thứ 5 trong gia đình; Vợ: Quách Thị P1, sinh năm 1987; có 02 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2009, tiền án, tiền sự: Không.

      Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/5/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Đ.

    2. Nguyễn Hồng P2, sinh năm 1994, tại Đồng Nai (có mặt)

      Nơi cư trú: khu G, ấp F, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp:lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc:kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo:không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hồng T1, sinh năm 1970 và bà Lê Thị Bé H, sinh năm 1974; anh chị em ruột 02 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ con: chưa có, tiền án, tiền sự: Không.

      Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/5/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Đ.

  2. Điểm cầu trung tâm: Hội trường B – Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán gồm có: không có đương sự.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hồng P2 và Nguyễn Văn T là đối tượng nghiện ma túy và là bạn bè quen biết nhau.

Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 25/5/2024, T mang một con gà đến cho P2 và không lấy tiền, T nói với P2 “có miếng đồ nào không lấy ra chơi” (P2 và T cùng ngầm hiểu với nhau từ “đồ” có nghĩa là ma túy). Do không còn ma túy nên P2 đi đến đoạn đường thuộc khu vực xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai tìm gặp một người tên Ú (chưa rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, P2 mang về nhà và lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy cùng chiếc quẹt lửa và chiếc kéo kim loại màu trắng của P2 ra để phục vụ việc sử dụng ma túy.

P2 dùng kéo kim loại cắt bịch ma túy đổ một phần vào nỏ thủy tinh rồi dùng quẹt lửa đốt nóng đáy của chiếc nỏ để “nấu” ma túy, rồi P2 và T truyền tay nhau sử dụng ma túy. Sử dụng ma túy xong, P2 dùng quẹt lửa hàn lại bịch nylon chứa số ma túy còn lại và đưa cho T để T sử dụng về sau. T nhận bịch ma túy từ P2, mang cất trong chiếc ví da màu đen để trong túi quần jean bên trái, phía trước mà T đang mặc. Đối với, bộ dụng cụ sử dụng ma túy, chiếc quẹt lửa và chiếc kéo kim loại màu trắng được P2 cất giấu tại khu vực bếp của căn nhà.

Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, trong khi P2 và T đang ngồi chơi với nhau tại tại vị trí đã sử dụng ma tuý thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ, T và P2 đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

* Vật chứng vụ án:

  • 01 bịch nylon được hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng được Nguyễn Văn T cất trong chiếc ví da màu đen, giấu tại vị trí bên trái, phía trước chiếc quần Jean đang mặc, T khai nhận tang vật bị thu giữ là ma túy cất giấu nhằm mục đích sử dụng dần cho bản thân (Ký hiệu M1);
  • 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, trong chiếc nỏ có bám chất bột màu trắng, T khai nhận chất bột màu trắng là ma túy (Ký hiệu M2);
  • 01 chiếc quẹt lửa.
  • 01 chiếc kéo kim loại màu trắng.

Bản Kết luận số: 1124/KL-KTHS ngày 03/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ xác định:

  • Mẫu tinh thể màu trắng (Mẫu M1) thu giữ trong ví da màu đen của Nguyễn Văn T được niêm phong gửi đến giám định là ma túy có khối lượng: 0,1643 gam loại Methamphetamine;
  • Mẫu chất màu trắng dính trong nỏ thủy tinh (Mẫu M2) thu giữ được niêm phong gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.

Theo cáo trạng số 321/CT-VKS-ĐQ ngày 25/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” định tại khoản 1 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 BLHS; Truy tố Nguyễn Hồng P2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” định tại khoản 1, Điều 255 Bộ luật Hình sự.

2

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Khoản 1, Điều 255; điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38, 55, 58 của BLHS xử phạt bị cáo T mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, tổng hợp hình phạt của 02 tội là 04 năm đến 05 năm tù.

Áp dụng: Khoản 1, Điều 255; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38, Điều 58 của BLHS xử phạt bị cáo P2 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

* Vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong sau giám định vụ số 1124/KL-KTHS ngày 03/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ, 01 chiếc quẹt lửa và 01 chiếc kéo kim loại màu trắng.

Về án phí: Bị cáo T, P2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, đồng ý về tội danh. Về hình phạt các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về tội danh:

    Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 25/5/2024, tại ấp F, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã P bắt quả tang Nguyễn Văn T có hành vi “Tàng trữ trái phép 0,1643 gam ma túy, loại: Methamphetamine” nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Qua điều tra xác định: Nguyễn Hồng P2 và Nguyễn Văn T đã có hành vi Tổ chức sử dụng ma túy chung với nhau tại căn nhà của P2 trước đó.

    Như vậy, hành vi của T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” định tại khoản 1 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

    Hành vi của Nguyễn Hồng P2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là đúng người đúng tội, có căn cứ pháp luật.

  2. [2] Về tình tiết tăng nặng:

    Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  3. [3] Về tình tiết giảm nhẹ:

    Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thể hiện rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có trình độ học vấn thấp, bị cáo T đang nuôi con còn nhỏ. Được quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  4. [4] Căn cứ quyết định hình phạt:

    Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là 01 trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển... trái phép chất ma túy. Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người

3

thực hành, P2 có vai trò là người cung cấp ma tuý, địa điểm và dụng cụ dùng để sử dụng ma tuý. T có vai trò là người khởi xướng để P2 đi mua ma tuý nên mức án của T và P2 là ngang nhau về tội tổ chức. Riêng đối với T do tổng hợp hình phạt của 02 tội nên mức án của T phải cao hơn P2. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng cho các bị cáo 01 mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục. Tuy nhiên, do các bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như trên nên xem xét giảm nhẹ 01 phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước, quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.

  1. [5] Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác:

    • Về xử lý vật chứng:
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong sau giám định vụ số 1124/KL-KTHS ngày 03/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ; 01 chiếc quẹt lửa và 01 chiếc kéo kim loại màu trắng, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Quán.

    • Về các vấn đề khác:
    • Đối với đối tượng có tên thường gọi là “Ú” đã bán ma túy cho Nguyễn Hồng P2. Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm và ban hành kế hoạch truy tìm đối tượng nhưng chưa có kết quả nên đã tách tập hồ sơ để tiếp tục xác minh, truy tìm để xử lý theo quy định.

  2. [6] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán:

    Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  3. [7] Về án phí:

    Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  4. [8] Xét quan điểm của Viện kiểm sát về mức hình phạt về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý chưa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 2, Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
  • Điểm a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Khoản 1, Điều 255; Điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38; Điều 55, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với T.
  • Khoản 1, Điều 255; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với P2.

4

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành 02 tội là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/5/2024.

  2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng P2 phạm tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

    1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng P2 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/5/2024.

  3. Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

  4. Vật chứng vụ án:

    Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong sau giám định vụ số 1124/KL-KTHS ngày 03/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ; 01 chiếc quẹt lửa và 01 chiếc kéo kim loại màu trắng, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Quán.

  5. Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo T, P2 biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán;
  • CQCSĐT Công an huyện Định Quán;
  • CQ THA hình sự Công an huyện Định Quán;
  • Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán;
  • Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • Bị cáo;
  • Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Lan

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 165/2024/HSST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 165/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyen Van T + đp - to chuc, tang tru trai phep chat ma tuy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger